chương 1. Trong chương này, Giới thiệu khái quát về đề tài nghiên cứu, xuất phát từ sự cần thiết của đề tài và tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả đã nêu lên mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Trong chương tiếp theo là trình bày cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Khái quát chung về thuế giá trị gia tăng 2.1 Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng (năm 1954). Thuế giá trị gia tăng (VAT — Value Added Tax) 14 m6t loại thuế gián thu “tính trên phần giá trị tăng thêm của tất cả hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông cho tới tiêu dùng” [1], [3]. VAT là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phâm hoàn thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng. Thuế giá trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.
Đây là một loại thuế gián thu, nghĩa là tiền thuế do người tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ đóng cho Nhà nước, thông qua người bán hàng hoá, dịch vụ; người bán hàng hoá, dịch vụ chỉ là người nhận tiền thuế và có nghĩa vụ nộp đầy đủ, kịp thời tiền thuế đã thu vào Ngân sách Nhà nước (NSNN). Thuế GTGT áp dụng với tất cá các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tiêu thụ trong nước và áp dụng lên các tô chức, cá nhân thuộc tất cả lĩnh vực thương mại sản xuất kinh doanh và cung ứng dịch vụ. Thuế GTGT thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN, được coi trọng trong tổng thé toàn bộ hệ thống thuế. Thuế giá trị gia tăng theo cấu trúc thuế tỷ lệ, của mức thuế suất, đơn giản trong quá trình tính toán và thu thuế, thể hiện chính xác bản chất GTGT.
Hiện nay, thuế GTGT có 3 mức thuế là: 0%, 5%, và 10%. (Phụ lục 4) Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế giá trị gia tăng là sản phẩm, hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế như nhau. Thuế giá trị gia tăng có điểm cơ bản khác với thuế doanh thu là chỉ có người bán hàng (hoặc dịch vụ) lần đầu phải nộp thuế giá trị gia tăng trên toàn bộ doanh thu bán hàng (hoặc cung ứng dịch vụ). Còn người bán hàng (hoặc dịch vụ) ở các khâu tiếp theo đối với hàng hoá (hoặc dịch vụ) đó, chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm.
Vai trò của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT không làm tăng giá cả hàng hóa. Bán chất thuế GTGT không làm tăng giá vì nó thay thế thuế doanh thu đã được kết cấu vào trong giá. Điều này cũng đòi hỏi các cơ quan quản lý các cấp từ trung ương đến địa phương phải có biện pháp quản lý hướng dẫn kịp thời và đúng đắn việc thực hiện thuế GTGT. Tránh tình trạng một số doanh nghiệp hay hộ kinh doanh chưa hiểu rõ, có thể sẽ cộng thêm thuế GTGT vào giá để bán làm giá cả hàng hoá tăng thêm.
Thuế GTGT tạo nên môi trường công bằng, qua đó góp phần thúc đây sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hóa, dịch vụ. [12] Thuế GTGT có thể khắc phục được nhược điềm của thuế doanh thu là không thu trùng lắp thuế chỉ thu vào phần giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ qua các khâu từ quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa cho đến tiêu dùng, nên có tác động tích cực đối với sản xuất dịch vụ, mặt khác giúp cho giá cả hàng hóa, dịch vụ được xác định hợp lý và chính xác hơn, góp phần ổn định giá cả, khuyến khích và thúc đây sản xuất, lưu thông hàng hóa. Đồng thời việc thực hiện thuế GTGT còn đòi hỏi các DN của tất cả các thành phần kinh tế phải tăng cường quản lý đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phâm đề đủ sức cạnh tranh trong tình hình mới. [12] Thuế GTGT huy động một phần thu nhập của người tiêu dùng vào NSNN, góp phần hình thành khoản thu lớn vào ổn định cho NSNN.
Với phạm vi áp dụng rộng trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, đối tượng nộp thuế và chịu thuế đều dễ dàng chấp nhận, tính tập trung của thuế, các yếu tố trên tạo tiền đề để thuế GTGT thực hiện vai trò này một cách rõ rệt trên thực tế. [24] Thuế VAT tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đây người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với 10 hoạt động mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán đề trốn lậu thuế. [12] Thuế GTGT sẽ khuyến khích đầu tư trong nước, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, đối mới công nghệ hiện đại.
Thuế GTGT không đánh vào hoạt động đầu tư tài sản cô định, toàn bộ số thuế GTGT phải trả lại khi mua sắm tài sản cố định sẽ được Nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại thuế GTGT cho DN. [12] Thuế GTGT sẽ góp phần khuyến khích xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh (SXKD) hàng hoá xuất khẩu, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Luật thuế GTGT qui định hàng hoá xuất khâu được hưởng thuế suất 0% và được hoàn thuế GTGT đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, khuyến khích xuất khẩu và tạo điều kiện để hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hóa tương tự của các nước trên thị trường quốc tế. Việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ góp phần bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước.
Kết hợp với cơ chế điều hành xuất nhập khâu hàng hoá, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế tiêu dùng, nhất là hàng tiêu dùng cao cấp từ nước ngoài, thực hiện tiết kiệm cho sản xuất. Đối với vật tư, nguyên vật liệu nhập khẩu vẫn thực hiện thu thuế GTGT khi hàng nhập về, nhưng đã có xem xét điều chỉnh giảm thuế nhập khâu để ồn định sản xuất trong nước. Thuế GTGT còn góp phần cơ cấu lại nền kinh tế từ sản xuất thay thế nhập khẩu chuyển mạnh sang sản xuất hướng xuất khâu. Thuế GTGT sẽ khuyến khích việc sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng nước ta có thế mạnh như nông sản, lâm sản, thuỷ sản.
bằng các qui định cụ thể như không thu thuế GTGT đối với hàng do người sản xuất bán ra, cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các cơ sở chế biến, hoàn thuế đầu vào cho các cơ sở xuất khâu các mặt hàng này nếu có hoá đơn GTGT đầu vào.[12] Thuế GTGT góp phần tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hóa có hóa đơn chứng từ. Kỹ thuật tính thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy người mua và người ll bán thực hiện tốt hơn chế độ hóa đơn, chứng từ. Góp phần thực hiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với sự vận động và tăng trưởng của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nước khác trên thế giới.3 Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng Theo Luật Thuế giá trị gia tăng được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XII, thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008. Tiếp đến là các Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật thuế GTGT, lần gần nhất Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế, có thê khái quát nội dung luật thuế giá trị gia tăng như sau: [1], [3],[4] Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là các loại hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế theo quy định cuả Luật thuế giá trị gia tăng và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành.
Đối tượng nộp thuế GTGT, Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh (KD) hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập khẩu). Tất cả các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài hoặc được xem như nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài nếu các hàng hóa, dịch vụ này thuộc diện chịu thuế GTGT ở Việt Nam thì các nhà nhập khẩu này cũng là đối tượng nộp thuế GTGT. Căn cứ tính thuế: Căn cứ tính thuế GTGT là (1) giá tính thuế và (2) thuế suất. (1) Giá tính thuế được quy định như sau: a)_ Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng.
Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bản đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá tri gia tăng; 12 b)_ Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có).