Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngân sách xã là cấp cơ sở trong hệ thống ngân sách nhà nước bốn cấp của Việt Nam, giữ vị trí trực tiếp bảo đảm phương tiện vật chất cho việc vận hành bộ máy chính quyền cơ sở, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh trật tự tại địa phương. Trong quá trình đổi mới nông thôn gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách xã trở thành nhiệm vụ cấp bách nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào trợ cấp cấp trên và phát huy nguồn lực tại chỗ.

Địa bàn xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là xã đồng bằng ven biển. Mặc dù kinh tế địa phương đạt mức tăng trưởng bình quân 15% trong giai đoạn nghiên cứu, việc thực thi công tác quản lý thu ngân sách xã vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế về kỹ thuật dự toán, kỷ luật thu nộp và cơ cấu nguồn thu. Nhằm đánh giá toàn diện công tác quản trị tài chính công cấp cơ sở, đề tài "Tăng cường công tác quản lý thu ngân sách xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh" đã được tác giả Võ Thị Hồng Ngọc thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Hòa tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế (2015).

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về công tác thu và quản lý thu ngân sách cấp xã.
  2. Phân tích thực trạng, làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý thu ngân sách xã Xuân Hội giai đoạn 2011 - 2014.
  3. Đề xuất các giải pháp khoa học và khả thi nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thu ngân sách xã trong giai đoạn tiếp theo, góp phần cân đối và ổn định ngân sách địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào các hoạt động quản lý thu ngân sách cấp xã bao gồm lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán thu ngân sách xã, công tác kiểm tra tài chính và các tác động tương hỗ đối với kinh tế - xã hội địa phương.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Phạm vi thời gian: Phân tích số liệu và nghiệp vụ tài chính phát sinh trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý của đề tài được xây dựng trên hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh công tác tài chính cấp cơ sở, bao gồm:

  • Luật Ngân sách nhà nước năm 2002.
  • Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003 của Bộ Tài chính quy định quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính ở xã, phường, thị trấn.
  • Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC ngày 12/05/2005 của Bộ Tài chính ban hành chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã.
  • Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012, thay thế Pháp lệnh Thuế nhà, đất năm 1992 và Pháp lệnh sửa đổi năm 1994).
  • Nghị quyết số 136/2010/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách địa phương và tỷ lệ phần trăm phân chia giữa các cấp ngân sách giai đoạn 2011 - 2015.

Về phương diện lý luận, tác giả hệ thống hóa bản chất của ngân sách xã là hệ thống quan hệ kinh tế bằng tiền dùng để bảo đảm chức năng quản lý hành chính tại cơ sở. Hoạt động quản lý thu ngân sách xã được phân định rõ theo 3 nhóm nguồn: các khoản thu ngân sách xã hưởng 100%; các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa các cấp ngân sách (ngân sách xã hưởng tối thiểu 70%); và các khoản thu bổ sung từ ngân sách cấp trên (bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu). Quy trình quản lý thu ngân sách được cấu thành từ 3 khâu liên hoàn: lập dự toán thu, chấp hành dự toán thu, hạch toán kế toán và quyết toán thu ngân sách.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc, tổng hợp và hệ thống hóa thông tin từ văn bản pháp luật, giáo trình, báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, tổng hợp số liệu thu ngân sách qua các năm vào hệ thống bảng biểu để phản ánh cơ cấu và diễn biến biến động của nguồn thu.
  • Phương pháp thu thập số liệu: Trích xuất số liệu sơ cấp và thứ cấp trực tiếp từ các báo cáo quyết toán thu ngân sách do Bộ phận Tài chính - Kế toán xã Xuân Hội lập.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng kỹ thuật phân tích, so sánh số thực hiện so với dự toán (tỷ lệ TH/DT %) và so sánh tốc độ tăng trưởng liên năm để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ thu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề chung về thu ngân sách xã và quản lý thu ngân sách xã

Chương này trình bày cơ sở lý luận về ngân sách xã, khẳng định vai trò là công cụ tài chính then chốt để quản lý và điều tiết kinh tế - xã hội địa phương. Tác giả phân tích 3 nhân tố cơ bản chi phối thu ngân sách xã: thu nhập bình quân đầu người, mức độ trang trải các khoản chi của chính quyền cấp xã, và cơ cấu tổ chức bộ máy thu nộp. Nội dung nguồn thu được bóc tách chi tiết theo phân cấp của Thông tư 60/2003/TT-BTC, gồm nguồn thu 100%, nguồn thu phân chia theo tỷ lệ, và nguồn thu bổ sung từ cấp trên. Quy trình 3 khâu của quản lý thu ngân sách xã được làm rõ về căn cứ, trình tự và trách nhiệm pháp lý giữa HĐND, UBND xã, Phòng Tài chính - Kế hoạch và Kho bạc Nhà nước huyện.

Về cơ sở thực tiễn quốc tế, đề tài phân tích kinh nghiệm quản lý ngân sách của Trung Quốc với nguyên tắc 4/6 (Trung ương kiểm soát ít nhất 60% tổng thu, phân bổ lại 20% cho địa phương) và cơ chế hỗ trợ qua quỹ đặc thù; cùng mô hình ngân sách không lồng ghép của Thái Lan dựa trên phân định tam quyền phân lập. Đồng thời, chương khái quát thực tiễn thu ngân sách tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2014, với tổng thu năm 2011 đạt 17.000 tỷ đồng (ngân sách địa phương chiếm 95,15%), năm 2012 đạt trên 3.042 tỷ đồng, và năm 2014 vượt mốc 12.500 tỷ đồng, dẫn đầu khu vực Bắc Trung Bộ. Từ đó, tác giả đúc kết 7 bài học kinh nghiệm về quản lý tài chính công: đồng bộ với bộ máy hành chính, tuyệt đối không để ngoài ngân sách, tôn trọng tính trung thực, thực hiện công khai minh bạch, phân cấp rõ ràng không lồng ghép, tập trung nguồn thu lớn cho cấp trên, và phân định thẩm quyền mạch lạc.

Chương II: Thực trạng công tác quản lý thu ngân sách xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Chương II phản ánh tổng quan điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Xuân Hội: địa bàn ven biển gồm 11 xóm, diện tích 11 km2, quy mô 6.089 nhân khẩu với 1.646 hộ. Cơ cấu kinh tế phát triển với tổng sản phẩm xã hội tăng từ 78 tỷ đồng lên 180 tỷ đồng (tăng 230%), thu nhập bình quân đầu người tăng từ 13 triệu đồng lên 30 triệu đồng/người/năm (tăng 232%). Đánh bắt thủy sản là ngành mũi nhọn với 95 tàu thuyền (28 tàu xa bờ, 67 tàu trung bờ và vùng lộng), giải quyết hơn 400 lao động, sản lượng năm 2014 đạt 5.440 tấn (trị giá 30 tỷ đồng); diện tích nuôi trồng đạt 161 ha (sản lượng 120 - 150 tấn/năm). Bộ phận Tài chính - Kế toán xã có 3 người: Chủ tịch UBND xã (chủ tài khoản), 1 công chức Tài chính - Kế toán, và 1 thủ quỹ kiêm Phó ban Thương binh xã hội.

Đánh giá thực trạng quản lý thu ngân sách xã giai đoạn 2011 - 2014, tác giả chỉ ra các diễn biến tổng hợp qua bảng số liệu sau:

Năm Dự toán giao (ngàn đồng) Thực hiện (ngàn đồng) Tỷ lệ TH/DT (%) Tăng trưởng so với năm trước (%)
2011 2.771.000 4.184.281 151,00 -
2012 3.475.000 6.636.564 191,00 +58,60
2013 7.009.000 7.571.189 108,00 +14,08
2014 6.408.000 7.243.513 113,04 -4,33

Xét chi tiết cơ cấu từng nguồn thu:

  • Nguồn thu xã hưởng 100%: Số thu biến động thất thường. Năm 2011 đạt 774,200 triệu đồng (18,5% tổng thu); năm 2012 đạt 858,747 triệu đồng (12,9%); năm 2013 đạt 1.650,000 triệu đồng (21,8%); nhưng đến năm 2014 sụt giảm mạnh xuống còn 327,245 triệu đồng (chỉ chiếm 4,38% tổng thu) do hụt thu từ quỹ đất công ích, tiền đền bù giải phóng mặt bằng và không phát sinh thu đóng góp nhân dân.
  • Nguồn thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm: Chiếm tỷ trọng thấp (từ 4% đến 10% tổng thu). Năm 2011 đạt 395,733 triệu đồng; năm 2012 đạt 487,653 triệu đồng; năm 2013 giảm sâu xuống 252,183 triệu đồng (chỉ đạt 36,6% dự toán); năm 2014 đạt 299,195 triệu đồng (đạt 19,13% dự toán). Tình trạng đóng băng của thị trường bất động sản làm thất thu tiền sử dụng đất (năm 2013 dự toán 600 triệu đồng nhưng thực hiện bằng 0). Bên cạnh đó, nợ đọng thuế nhà đất kéo dài do hoạt động đầu cơ đất của người ngoài địa bàn.
  • Nguồn thu bổ sung từ cấp trên: Chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng thu ngân sách xã qua các năm, cho thấy ngân sách địa phương phụ thuộc phần lớn vào trợ cấp điều tiết từ ngân sách cấp huyện.

Tác giả chỉ rõ các tồn tại: Lập dự toán còn hình thức, chưa bám sát tiềm năng thực tế; bỏ sót hoàn toàn thuế sử dụng đất nông nghiệp ra ngoài dự toán suốt 4 năm; tiến độ lập dự toán còn chậm so với mốc luật định; công tác thu thường dồn ứ vào tháng 12; và số chuyển nguồn năm 2013 lên tới trên 1 tỷ đồng, phản ánh tình trạng đọng vốn và chậm trễ trong triển khai các nhiệm vụ chi.

Chương III: Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu ngân sách xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Dựa trên định hướng phát triển kinh tế - xã hội địa phương và mục tiêu hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới, chương đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và tổ chức:

  1. Tập trung phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo nguồn thu sẵn có trên địa bàn: Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành ngư nghiệp, khai thác năng lực 28 tàu đánh bắt xa bờ; phát triển 161 ha diện tích nuôi tôm thâm canh; thúc đẩy chế biến nước mắm truyền thống và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (xây dựng, mộc, hàn điện); hỗ trợ nhân rộng 12 mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả để nuôi dưỡng nguồn thu thuế, phí.
  2. Tăng cường công tác tập huấn, đào tạo đội ngũ cán bộ: Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ tài chính - kế toán cho công chức phụ trách; tổ chức đào tạo về luật thuế mới; phân định trách nhiệm cụ thể giữa công chức tài chính, thủ quỹ và các tổ ủy nhiệm thu tại 11 xóm nhằm chấm dứt tình trạng thất thu.
  3. Nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch thu ngân sách: Tiến hành điều tra, lập bộ thuế đầy đủ đối với từng đối tượng kinh doanh và quỹ đất; đưa toàn bộ các khoản thu thường xuyên (thuế sử dụng đất nông nghiệp, các khoản đóng góp theo quy định) vào dự toán; bám sát hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên và quy định tại Thông tư 60/2003/TT-BTC.
  4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý ngân sách: Triển khai phần mềm quản lý ngân sách xã; tin học hóa dữ liệu hộ kinh doanh, diện tích đất đai và đối tượng nộp thuế; thiết lập kết nối trao đổi thông tin thường xuyên với Kho bạc Nhà nước huyện Nghi Xuân và Chi cục Thuế huyện.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất và tổng hợp được bức tranh số liệu trung thực về ngân sách xã Xuân Hội giai đoạn 2011 - 2014, với những phát hiện cụ thể:

  • Mặc dù tổng thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch dự toán (từ 108% đến 191%), sự tăng trưởng này chủ yếu do nguồn thu bổ sung từ ngân sách cấp trên quyết định, chứ không phản ánh sự tự chủ về nội lực tài chính.
  • Nguồn thu do xã hưởng 100% và nguồn thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm chiếm tỷ trọng rất nhỏ và có xu hướng sụt giảm mạnh vào cuối chu kỳ nghiên cứu (thu 100% năm 2014 chỉ đạt 4,38% tổng thu; thu phân chia năm 2014 chỉ đạt 19,13% dự toán).
  • Làm sáng tỏ các khuyết tật trong công tác quản lý tài chính cấp cơ sở: Tình trạng lập dự toán thiếu chính xác dẫn đến bỏ sót nguồn thu thường xuyên; số thu chuyển nguồn lớn (năm 2013 đạt 1.000.000 ngàn đồng) gây lãng phí nguồn vốn; thói quen nộp thuế dồn về cuối năm; và nợ đọng kéo dài từ thuế nhà đất do đầu cơ bất động sản.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc hệ thống hóa 4 nhóm giải pháp gắn chặt giữa phát triển kinh tế biển với kỹ thuật quản lý ngân sách tại một xã bãi ngang nông thôn. Đồng thời, tác giả đưa ra các kiến nghị thiết thực gửi UBND huyện Nghi Xuân và cơ quan thuế về việc chia sẻ cơ sở dữ liệu đối tượng nộp thuế và bố trí kinh phí ủy nhiệm thu phù hợp cho cấp xã.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có những giới hạn nhất định bắt nguồn từ phạm vi thu thập số liệu:

  • Dữ liệu nghiên cứu mới dừng lại ở mốc thời gian năm 2014, chưa bao quát được toàn bộ giai đoạn kết thúc kế hoạch phát triển 5 năm (2011 - 2015).
  • Hồ sơ tài chính lưu trữ tại xã chưa đồng bộ, dẫn đến việc thiếu vắng số liệu thực tế về các khoản thu sự nghiệp giáo dục, y tế và một số khoản đóng góp của nhân dân trong các năm 2012 - 2014.
  • Đề tài chưa đi sâu lượng hóa mức độ tác động của kiều hối và thu nhập từ xuất khẩu lao động (với gần 800 người làm việc ở nước ngoài, mang lại 110 tỷ đồng năm 2014) đến khả năng huy động nguồn thu tại chỗ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 2015 khi Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 có hiệu lực, nhằm đánh giá sự thay đổi trong cơ chế phân cấp nguồn thu cấp xã; đồng thời phân tích cơ chế thu ngân sách từ chuỗi liên kết dịch vụ hậu cần nghề cá và nuôi trồng thủy sản.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận cung cấp giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kế hoạch đầu tư, Tài chính công làm tài liệu đối sánh khi thực hiện đề tài tốt nghiệp về quản lý ngân sách cấp xã, phường, thị trấn.
  • Cán bộ, công chức làm công tác Tài chính - Kế toán tại các xã thuộc vùng bãi ngang ven biển tham khảo kinh nghiệm tổ chức quy trình thu và quản lý nợ đọng đất đai.
  • Phần có giá trị tham khảo thực tiễn cao nhất là hệ thống bảng biểu quyết toán ngân sách xã từ năm 2011 đến năm 2014 và sơ đồ mô tả luồng tổ chức thực hiện thu ngân sách giữa đối tượng nộp, tổ ủy nhiệm thu, cán bộ tài chính xã và Kho bạc Nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

Cơ cấu nhân sự của Bộ phận Tài chính - Kế toán xã Xuân Hội được tổ chức như thế nào? Bộ phận Tài chính - Kế toán của xã gồm 3 người: Chủ tịch UBND xã là chủ tài khoản chịu trách nhiệm chung; 1 công chức Tài chính - Kế toán thực hiện công tác tham mưu chuyên môn, lập dự toán và quyết toán; và 1 thủ quỹ kiêm nhiệm Phó ban Thương binh xã hội phụ trách xuất nhập quỹ tiền mặt.

Tại sao khoản thu ngân sách xã hưởng 100% năm 2014 tại Xuân Hội lại giảm sút nghiêm trọng? Năm 2014, nguồn thu 100% giảm xuống còn 327.245 ngàn đồng (chiếm 4,38% tổng thu) do sụt giảm mạnh nguồn thu từ quỹ đất công ích và đất công (chỉ đạt 156.000 ngàn đồng so với mức 463.000 ngàn đồng năm 2013); các khoản đền bù giải phóng mặt bằng, thu sự nghiệp và thu đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng từ nhân dân không phát sinh hoặc không đạt kế hoạch.

Những nguyên nhân nào dẫn đến việc thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm không đạt dự toán trong năm 2013 và 2014? Thị trường bất động sản trầm lắng sau suy thoái kinh tế khiến công tác đấu giá đất để tạo vốn hạ tầng không thực hiện được (năm 2013 dự toán tiền sử dụng đất là 600 triệu đồng nhưng thực hiện bằng 0; năm 2014 dự toán 1,5 tỷ đồng nhưng chỉ đạt 299 triệu đồng). Ngoài ra, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp và tình trạng nợ đọng thuế nhà đất từ các nhà đầu tư đầu cơ không cư trú tại địa phương làm sụt giảm nguồn thu điều tiết.

Bản chất và thực trạng của khoản thu chuyển nguồn ngân sách tại xã Xuân Hội là gì? Thu chuyển nguồn là khoản kinh phí dự toán từ năm trước dành cho các nhiệm vụ chi chưa hoàn thành được phép chuyển sang năm sau tiếp tục thực hiện. Tại xã Xuân Hội, khoản thu chuyển nguồn có sự biến động lớn: năm 2011 là 150 triệu đồng, năm 2012 là 250 triệu đồng, nhưng sang năm 2013 tăng vọt lên 1.000.000 ngàn đồng, phản ánh việc tồn đọng nhiều nhiệm vụ chi chưa quyết toán và gây ứ đọng vốn công.

Xã Xuân Hội đã đạt được những tiêu chí nông thôn mới nào trong giai đoạn 2011 - 2014? Sau 3 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới, xã đã hoàn thành 9/19 tiêu chí gồm: Quy hoạch, Điện, Bưu điện, Cơ sở vật chất trường học, Thu nhập, Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, An ninh trật tự xã hội, Giáo dục, và Y tế.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Hồng Ngọc đã làm rõ bức tranh quản trị thu ngân sách tại xã Xuân Hội giai đoạn 2011 - 2014, chỉ rõ thực trạng phụ thuộc lớn vào ngân sách cấp trên cùng các điểm nghẽn trong kỹ thuật lập dự toán và xử lý nợ đọng thuế đất đai. Việc khảo sát số liệu quyết toán thực tế kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và cấp tỉnh đã cung cấp luận cứ thực tiễn tin cậy về quản lý tài chính công cấp cơ sở. Bốn nhóm giải pháp được đề xuất là định hướng phù hợp nhằm khai thác thế mạnh kinh tế biển, chuẩn hóa nghiệp vụ bộ máy tài chính xã, hướng tới mục tiêu tự chủ ngân sách địa phương trong tiến trình xây dựng nông thôn mới.