phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý thiết bị giáo dục trường mầ m non của Phòng Giáo dục và Đào tạo Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thiết bị giáo dục trường mầ m non của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục trường mầ m non của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TRƢỜNG MẦM NON CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong quá trình dạy học, TBGD là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học.
Với tư cách là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, khi chúng ta sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn, TBGD đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin cho HS trong học tập, tạo ra nhiều khả năng để GV trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở HS những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lý luận dạy học, được nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kỳ triết học: Trực quan trong triết học cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại, trực quan trong triết học biện chứng duy tâm và trong triết học duy vật biện chứng. Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới nhận thức được vai trò quan trọng của phương tiện dạy học trực quan. Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học sinh không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ được bản chất của hiện tượng.
Chính vì vậy, công tác quản lý cơ sở vật chất trường học nói chung và công tác quản lý TBGD nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu. Theo quan điểm của người Ấn Độ đã từng tổng kết: tôi nghe - tôi quên, tôi nhìn - tôi nhớ, tôi làm - tôi hiểu. Ở Việt Nam, có câu tục ngữ cho rằng: “Trăm nghe không bằng một thấy.” Và hơn hết Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa của Việt Nam và thế giới đã nói “Học phải đi đôi với hành.” Thiết bị giáo dục là một trong những điều kiện cơ sở vật chất không thể thiếu trong mỗi nhà trường, mỗi cơ sở giáo dục, đã được Đảng, Nhà nước đưa vào thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. TBGD là công cụ lao động của 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo viên, là phương tiện giúp học sinh dễ hiểu các khái niệm, dễ lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh hình thành những kỹ năng thói quen cần thiết, bước đầu luyện tập thực hành, lao động, ứng dụng trong đời sống.
Tuy nhiên, trong thực tế công tác sử dụng TBGD của đội ngũ nhà giáo chưa đạt được kết quả như mong muốn do nhận thức về vai trò quan trọng của TBGD, kỹ năng sử dụng còn hạn chế, thiết bị giáo dục kém chất lượng, thiếu đồng bộ, công tác quản lý thiếu các biện pháp có hiệu quả. Chính vì vậy mà đã có nhiều đề tài nghiên cứu đến công tác quản lý, sử dụng TBGD nhằm tìm ra những biện pháp quản lý có hiệu quả như : Đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở trường phổ thông” của tác giả Trần Quốc Đắc, nghiên cứu việc nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các bộ môn theo chương trình SGK. Đề tài cấp Bộ “Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học phục vụ triển khai chương trình sách giáo khoa tiểu học và THCS” của tác giả Trần Đức Vượng chủ trì đã đưa ra những biện pháp sử dụng thiết bị có hiệu quả. Trong cuốn “Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc làm chủ biên có phần nghiên cứu về “Quản lý tài chính và thiết bị giáo dục” đã chỉ ra cách phân loại và các nguyên tắc quản lý TBGD ở trường phổ thông.
Năm 2013, trong cuốn tài liệu dùng cho học viên cao học chuyên ngành quản lý giáo dục của tác giả Phạm Văn Thuần đã đề cập đến quản lý CSVC và TBGD, đưa ra những vấn đề chung về CSVC-TBGD và nội dung quản lý CSVC – TBGD. Năm 2013, đề tài luận văn thạc sỹ “Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Minh Huế. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non còn rất ít đề tài đề cập đến, việc nghiên cứu về công tác quản lý thiết bị giáo dục trường mầm non của Phòng Giáo dục và Đào tạo lại càng ít hơn. Đặc biệt ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định công tác này còn nhiều hạn chế.
Từ đó, tác giả nghiên cứu đề tài: “Quản lý thiết bị giáo dục trường mầm non của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất các 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biện pháp quản lý TBGD góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường mầm non của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Với nhiều cách tiếp cận khác nhau như kinh tế học, giáo dục học, xã hội học,… nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra những quan niệm tương đối đồng nhất về khái niệm quản lý. Theo quan niệm của các tác giả nước ngoài về quản lý: Theo Harold Koonfz và Heinz Weihrich: “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự phối hợp giữa cá nhân nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt được kết quả cao nhất” [39].Fayol (1841 - 1925), một kỹ nghệ gia người Pháp, xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý là người đầu tiên đã phân biệt thành năm chức năng cơ bản của quản lý: “Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” Các Mác đưa ra khái niệm:“Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”.
Ông mô tả hoạt động quản lý qua cách diễn đạt hình tượng hóa rất sinh động: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [38]. Quan niệm của các tác giả ở Việt Nam về quản lý: Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10, tr. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [1]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định” [33].
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qua các khái niệm về quản lý nêu ở trên, ta thấy tuy được diễn đạt theo những cách thức khác nhau nhưng chúng đều nhấn mạnh vào ba yếu tố cơ bản của hoạt động quản lý. Đó là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý: là người đưa ra những tác động có định hướng, có mục đích, hợp quy luật đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Đối tượng quản lý: là con người trong tổ chức và các nguồn lực, là đối tượng chịu tác động có mục đích của chủ thể quản lý. Mục tiêu quản lý: là trạng thái mong muốn của tổ chức hướng tới trong tương lai.
Nó là đích cần đạt để tổ chức ổn định và phát triển cao hơn. Từ đó, theo quan điểm của tác giả, khái niệm quản lý được định nghĩa như sau: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý bằng các hoạt động kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm đạt được trạng thái mong muốn của tổ chức và để từ đó tiếp tục đưa tổ chức phát triển. Quản lý giáo dục Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội. Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được thừa kế, bổ sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển.
Quản lý giáo dục là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Trên khái niệm về quản lý, với những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm về quản lý giáo dục như sau: Theo tác giả Brush T: “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”[1, tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.