Tổng quan nghiên cứu

Huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định có quy mô giáo dục trung học cơ sở tương đối phát triển với 13 trường, 304 lớp học và 11.506 học sinh trong năm học 2020 - 2021. Mặc dù 100% trường trung học cơ sở trên địa bàn đã đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, trong đó có khoảng 25,3% trường đạt mức độ 2, công tác quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Trong năm học 2020 - 2021, Ủy ban nhân dân huyện Tuy Phước đã phân bổ hơn 35 tỷ đồng để xây dựng 69 phòng học kiên cố và giải ngân trên 20,8 tỷ đồng mua sắm thiết bị dạy học mới. Riêng gói thiết bị lớp 6 phục vụ Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chiếm khoảng 11,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiệu quả vận hành thực tế chưa tương xứng với nguồn lực đầu tư khi hơn 50% cán bộ và giáo viên đánh giá chất lượng thiết bị chưa tốt, đồng thời tình trạng sử dụng thiết bị dạy học còn mang tính hình thức, đối phó.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là phân tích khoảng cách giữa nhu cầu đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực với năng lực quản lý thiết bị dạy học của đội ngũ hiệu trưởng tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng trang bị, sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học; từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ, khoa học và có tính khả thi cao. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 13 trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn huyện Tuy Phước trong giai đoạn từ năm học 2019 - 2020 đến năm học 2020 - 2021. Công trình đóng vai trò là luận cứ thực tiễn quan trọng, hỗ trợ các nhà quản lý nâng cao tỷ lệ khai thác thiết bị dạy học chuẩn hóa lên mức tối ưu, giảm thiểu tỷ lệ lãng phí ngân sách và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết dạy học trực quan kinh điển của nhà giáo dục học J.A. Comenius, khẳng định nguyên tắc trực quan là nền tảng của nhận thức sư phạm, cùng quan điểm giáo dục hiện đại của K. Pestalozzi và V.A. Sukhomlinsky. Các nghiên cứu tâm lý học sư phạm chỉ ra rằng tri thức tiếp nhận qua thị giác chiếm 83%, qua thính giác chiếm 11%, và tỷ lệ ghi nhớ thông qua hoạt động thực hành thực tế đạt tới 90%. Về lý thuyết quản trị, đề tài kế thừa mô hình chu trình quản lý của Harold Koontz, Paul Hersey, Ken Blanchard và các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước như Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa bao gồm: Thiết bị dạy học là hệ thống phương tiện vật chất chứa đựng nội dung giáo dục, hỗ trợ giáo viên điều khiển nhận thức và giúp học sinh tự chiếm lĩnh tri thức; Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý; Quản lý thiết bị dạy học là hoạt động tác động có định hướng của hiệu trưởng đến chu trình trang bị, tự làm, sử dụng và bảo quản thiết bị nhằm phục vụ mục tiêu dạy học. Căn cứ pháp lý then chốt của nghiên cứu dựa trên Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 29 và Điều 105), Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT về Điều lệ trường trung học cơ sở, Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất, Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT về kiểm định chất lượng giáo dục và Quyết định số 41/2000/QĐ-BGDĐT ban hành quy chế thiết bị giáo dục.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp quan sát thực địa, phỏng vấn chuyên gia và phân tích tài liệu văn bản quản lý. Cỡ mẫu khảo sát gồm 150 khách thể, được chia thành hai nhóm: 25 cán bộ quản lý (gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn) và 125 giáo viên cùng nhân viên phụ trách thiết bị dạy học. Phương pháp chọn mẫu phân tầng đại diện được áp dụng tại 5 trường trung học cơ sở phản ánh đặc trưng các vùng sinh thái xã hội của huyện Tuy Phước: Trường THCS Phước Thành (loại 1, vùng đồng bằng), Trường THCS Trần Bá (loại 1, thị trấn Diêu Trì), Trường THCS Phước Hòa (loại 2, khu vực thị tứ), Trường THCS Phước Thắng (loại 2, vùng nông thôn đồng bằng) và Trường THCS số 2 Phước Sơn (loại 3, khu vực ven đầm bãi ngang).

Dữ liệu định lượng được đo lường bằng thang đo 4 mức độ (Mức 1: 1,0 đến dưới 2,5 - Yếu/Không quan trọng; Mức 2: 2,5 đến dưới 3,0 - Trung bình/Ít quan trọng; Mức 3: 3,0 đến dưới 3,5 - Khá/Quan trọng; Mức 4: 3,5 đến 4,0 - Tốt/Rất quan trọng). Việc lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, tính điểm trung bình (ĐTB) và tỷ lệ phần trăm (%) thông qua phần mềm Microsoft Excel cho phép định lượng chính xác sự khác biệt trong nhận thức và thực hành quản lý giữa cấp quản lý và lực lượng giáo viên trực tiếp giảng dạy. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong 2 năm học, từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 5 năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại 5 trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước mang lại 4 phát hiện quan trọng về thực trạng thiết bị dạy học và hoạt động quản lý:

Thứ nhất, về mức độ trang bị thiết bị dạy học, có 52,0% cán bộ quản lý và 50,4% giáo viên cùng nhân viên thiết bị nhận định nhà trường chỉ dừng ở mức trang bị đủ thiết bị tối thiểu. Tỷ lệ đánh giá trang bị tốt đáp ứng nhu cầu dạy học đạt 28,0% ở cán bộ quản lý và 32,0% ở giáo viên, trong khi vẫn còn khoảng 17,6% đến 20,0% ý kiến phản ánh tình trạng thiếu hụt trang thiết bị dạy học cơ bản.

Thứ hai, về chất lượng và tính đồng bộ của thiết bị dạy học, có tới 52,0% cán bộ quản lý và 50,4% giáo viên đánh giá chất lượng thiết bị ở mức chưa tốt; thậm chí có 12,0% giáo viên xếp loại kém. Về tính đồng bộ, chỉ có 28,0% đánh giá đạt mức đồng bộ hoàn toàn, trong khi 64,0% cán bộ quản lý và 56,0% giáo viên nhận xét thiết bị chỉ tương đối đồng bộ, và có đến 16,0% giáo viên cho rằng thiết bị hoàn toàn không đồng bộ giữa các phân môn.

Thứ ba, về mức độ hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin, tỷ lệ đánh giá thiết bị hiện đại chỉ đạt 20,0% ở cán bộ quản lý và 16,0% ở giáo viên. Khoảng 24,0% cán bộ quản lý và 27,2% giáo viên chỉ ra rằng thiết bị còn lạc hậu hoặc chưa hiện đại, thiếu thốn các phòng chức năng đa phương tiện và phòng học bộ môn chuyên biệt.

Thứ tư, về tần suất sử dụng thiết bị trong các giờ dạy, dữ liệu cho thấy sự chênh lệch rõ rệt theo mục đích tiết học. Giáo viên sử dụng thiết bị thường xuyên nhất trong các tiết thao giảng (ĐTB = 3,73; xếp hạng 1), các tiết dạy thấy thực sự cần thiết (ĐTB = 3,65; xếp hạng 2) và các tiết dự giờ (ĐTB = 3,59; xếp hạng 3). Ngược lại, trong các tiết dạy bình thường hàng ngày, mức độ sử dụng giảm xuống thứ hạng thấp nhất (ĐTB = 3,33; xếp hạng 4), bộc lộ xu hướng sử dụng mang tính đối phó.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua các biểu đồ phân bố và bảng đối chiếu chéo giữa nhóm quản lý và nhóm giáo viên, sự phân hóa trong nhận thức và hành vi quản trị hiện lên rất rõ nét. Điểm trung bình đánh giá mức độ sử dụng thiết bị của cán bộ quản lý ở cả 4 loại hình tiết dạy đều cao hơn so với tự đánh giá của giáo viên (ví dụ tiết thao giảng: cán bộ quản lý đánh giá 3,80 so với giáo viên là 3,65). Điều này phản ánh tâm lý hài lòng chủ quan của cấp quản lý, chưa nắm bắt sát sao rào cản kỹ thuật mà giáo viên gặp phải.

Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ 4 yếu tố chính: Khâu nghiệm thu thiết bị đầu vào tại các trường còn lỏng lẻo, dẫn đến việc tiếp nhận các bộ thiết bị độ bền kém, thiếu tài liệu hướng dẫn chuẩn xác; Đội ngũ viên chức phụ trách thiết bị chưa được chuyên trách hóa, đa phần là giáo viên kiêm nhiệm thiếu chứng chỉ nghiệp vụ (nội dung đào tạo nhân viên thiết bị chỉ xếp hạng 5/6 với ĐTB = 3,36); Kinh phí duy tu, bảo dưỡng định kỳ chưa được bố trí thỏa đáng; Công tác kiểm tra, lưu trữ hồ sơ thiết bị bị xem nhẹ nhất (xếp hạng 6/6 với ĐTB = 3,27). Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu quản lý thiết bị giáo dục tại Cà Mau, Thừa Thiên Huế và Cần Thơ, khẳng định rằng nếu không có quy chế quản lý nội bộ chặt chẽ, việc tăng vốn ngân sách sẽ không thể chuyển hóa thành chất lượng giảng dạy thực chất.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, 4 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản trị thiết bị dạy học tại các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước:

Biện pháp 1: Chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, thẩm định và nghiệm thu kỹ thuật thiết bị dạy học mua sắm mới. Hiệu trưởng thành lập Hội đồng nghiệm thu cấp trường gồm đại diện Ban Giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn và nhân viên phụ trách thiết bị. Mục tiêu nâng tỷ lệ thiết bị đạt chuẩn sư phạm và độ bền kỹ thuật lên 100%, kiên quyết từ chối các sản phẩm không rõ xuất xứ hoặc sai lệch thông số. Thời gian triển khai ngay từ đầu năm học 2021 - 2022.

Biện pháp 2: Xây dựng quy chế sử dụng, bảo quản và số hóa hồ sơ quản trị thiết bị dạy học. Hiệu trưởng ban hành quy định nội bộ bắt buộc về định mức sử dụng thiết bị trong từng môn học, gắn tiêu chí này vào đánh giá thi đua định kỳ của giáo viên; thiết lập phần mềm quản lý kho thiết bị để theo dõi nhật ký mượn, trả và tỷ lệ khấu hao. Phấn đấu tăng tần suất sử dụng thiết bị trong các tiết dạy bình thường đạt điểm trung bình từ 3,65 trở lên, hoàn thành trong giai đoạn 2021 - 2023. Chủ thể thực hiện là Ban Giám hiệu phối hợp với Tổ chuyên môn và Tổ văn phòng.

Biện pháp 3: Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ nhân viên thiết bị và kỹ năng ứng dụng công nghệ cho giáo viên. Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức các đợt tập huấn chuyên đề về bảo dưỡng, tự làm thiết bị dạy học đơn giản và khai thác phòng học bộ môn STEM. Phấn đấu 100% nhân viên phụ trách thiết bị được cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ chuẩn hóa trước năm 2023; khoảng 95% giáo viên làm chủ các thiết bị kỹ thuật số và thiết bị nghe nhìn hiện đại.

Biện pháp 4: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư và đẩy mạnh phong trào tự làm đồ dùng dạy học theo định hướng Chương trình GDPT 2018. Ủy ban nhân dân huyện và Ban Giám hiệu các trường huy động nguồn lực xã hội hóa giáo dục khoảng 15% đến 20% bên cạnh ngân sách nhà nước hơn 20 tỷ đồng hàng năm để trang bị bổ sung phòng học thông minh; đồng thời phát động hội thi tự làm đồ dùng dạy học cấp huyện mỗi năm một lần nhằm bổ sung ít nhất 2 đến 3 bộ thiết bị sáng tạo cho mỗi trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

Cán bộ quản lý và Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở: Cung cấp khung năng lực quản trị cơ sở vật chất chuẩn hóa, bộ công cụ khảo sát thực trạng và các quy chế mẫu về bảo quản, sử dụng thiết bị dạy học trong môi trường giáo dục phổ thông.

Giáo viên bộ môn và nhân viên phụ trách thiết bị trường học: Giúp hiểu rõ quy chuẩn an toàn phòng thí nghiệm, phương pháp bảo quản vật tư tiêu hao, kỹ năng phối hợp giữa nhân viên thiết bị và giáo viên để nâng cao hiệu suất các giờ thực hành thí nghiệm đạt trên 90% hiệu quả sư phạm.

Chuyên viên Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo: Cung cấp dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học để lập kế hoạch phân bổ vốn ngân sách mua sắm tập trung, thẩm định danh mục thiết bị tối thiểu cho Chương trình GDPT 2018 và xây dựng mạng lưới trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2021 - 2025.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý giáo dục: Tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thực chứng, thiết kế bảng hỏi Likert trong quản trị nhà trường và kinh nghiệm xử lý số liệu định lượng trong quản lý cơ sở vật chất giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chất lượng thiết bị dạy học tại các trường THCS Tuy Phước chưa cao dù ngân sách đầu tư hàng năm trên 20 tỷ đồng?
Nguyên nhân chủ yếu do cơ chế mua sắm tập trung theo chỉ đạo cấp trên chưa sát nhu cầu thực tế của từng bộ môn, khâu kiểm định chất lượng đầu vào tại trường còn sơ sài, và áp lực cạnh tranh giá của các đơn vị cung ứng làm giảm chất lượng vật liệu, dẫn đến hơn 50% cán bộ và giáo viên đánh giá chất lượng chưa đạt yêu cầu.

Tình trạng giáo viên sử dụng thiết bị dạy học mang tính đối phó bắt nguồn từ đâu?
Hiện tượng này xuất phát từ việc thiếu quy chế kiểm tra định kỳ tiết dạy thường nhật, trình độ khai thác thiết bị công nghệ của một bộ phận giáo viên còn hạn chế, cùng với gánh nặng chuẩn bị giáo án thực hành khiến giáo viên chỉ tập trung dùng thiết bị khi có thao giảng (ĐTB = 3,73) hoặc có dự giờ (ĐTB = 3,59).

Mẫu khảo sát 150 người tại 5 trường THCS có bảo đảm tính đại diện khoa học không?
Cỡ mẫu 150 người (25 cán bộ quản lý, 125 giáo viên và nhân viên) được chọn theo phương pháp phân tầng đại diện trên 5 trường thuộc đầy đủ các phân hạng trường loại 1, loại 2, loại 3 và phân bố đều ở các vùng địa lý (thị trấn, đồng bằng, ven biển), bảo đảm độ tin cậy thống kê cao cho toàn huyện Tuy Phước.

Chương trình GDPT 2018 đặt ra thách thức lớn nhất nào cho công tác quản lý thiết bị dạy học?
Thách thức lớn nhất là tính đồng bộ và hiện đại của thiết bị phục vụ phương pháp dạy học tích hợp và giáo dục STEM. Trong khi thiết bị hiện có phần lớn là phương tiện truyền thống, các thiết bị kỹ thuật số, phòng học bộ môn chuyên biệt mới chỉ đạt khoảng 20% mức độ hiện đại theo chuẩn mới.

Giải pháp nào khắc phục nhanh tình trạng thiếu nhân viên thiết bị chuyên trách tại các trường?
Giải pháp cấp bách là hoàn thiện biên chế nhân viên chuyên trách có văn bằng đào tạo đúng chuyên ngành; đồng thời tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn bắt buộc cho giáo viên kiêm nhiệm, chi trả đầy đủ chế độ phụ cấp độc hại và giảm định mức tiết dạy theo đúng Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học ở cấp trung học cơ sở, khẳng định thiết bị dạy học là phương tiện trung tâm trong đổi mới phương pháp giáo dục.
  • Khảo sát 150 khách thể tại 5 trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước đã phản ánh chân thực các điểm nghẽn: 52,0% thiết bị chỉ đạt mức tối thiểu, trên 50% chất lượng chưa tốt, và tình trạng sử dụng còn mang tính đối phó giữa các tiết dạy bình thường (ĐTB = 3,33) so với tiết thao giảng (ĐTB = 3,73).
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của đề tài là xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp quản trị mang tính đồng bộ: từ chuẩn hóa nghiệm thu đầu vào, ban hành quy chế sử dụng nội bộ, bồi dưỡng nhân lực thiết bị chuyên trách đến huy động vốn xã hội hóa 15% đến 20%.
  • Kế hoạch triển khai hành động được phân kỳ cụ thể trong giai đoạn 2021 - 2025, gắn liền với tiến độ thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và quy hoạch mạng lưới trường lớp của Ủy ban nhân dân huyện Tuy Phước.
  • Các cấp lãnh đạo giáo dục, ban giám hiệu các trường và giáo viên cần nhanh chóng áp dụng các biện pháp quản lý trên vào thực tiễn, chuyển hóa cơ sở vật chất hiện có thành chất lượng giảng dạy thực chất, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục tại địa phương.