phần Mở đầu, nội dung, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về QL công tác TĐKT ở trƣờng THPT. Thực trạng QL công tác TĐKT ở các trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Biện pháp QL công tác TĐKT ở các trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định \ 5 Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƢỞNG Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước Công tác TĐKT đƣợc đẩy mạnh từ rất sớm ở các quốc gia phát triển nhƣ: Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp, Nga, Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore. Những bài học kinh nghiệm từ những nghiên cứu ở các nƣớc đã giúp cho đội ngũ CB làm công tác TĐKT các cấp nâng cao nhận thức, tầm nhìn và tƣ duy, tham mƣu, hoạch định trong phong trào TĐ và thực hiện KT phù hợp với từng thời kỳ.
Reinert trong bài viết “Phân tích định lượng về Bản dịch kinh tế trong Thế giới Châu Âu (1500–1849)” đã có những tìm hiểu về công tác TĐ. Ông viết: “Sức mạnh trong thế giới hiện đại phụ thuộc vào sự giàu có so sánh trong quan hệ quốc tế, và phương tiện duy nhất để đạt được và duy trì sự vĩ đại là theo đuổi sự TĐ”[32, tr. Trong chƣơng 10 - KT của Nhà nước và Giải phóng Phụ nữ: Nghiên cứu về các KT của tác giả Zhou Lei, ông cho rằng tiêu chí lựa chọn vào thời điểm đó là các ứng cử viên phải đáng tin cậy về mặt chính trị và có động lực cao; nghiêm túc theo đuổi đổi sự cạnh tranh, TĐ, đổi mới công nghệ, chăm chỉ học tập, nghiên cứu khoa học. Việc tuyên dƣơng đƣợc thực hiện thông qua hội nghị truyền thanh nên hoạt động KT đƣợc lan tỏa nhanh và sâu rộng.
Các phẩm chất cần thiết của việc KT là “đỏ” (độ tin cậy về mặt chính trị) là sự siêng năng, khéo léo và tiết kiệm, thể hiện sự kỳ vọng của Nhà nƣớc. Thông qua hoạt động tuyên dƣơng sẽ góp phần tuyên truyền tƣ tƣởng chủ đạo của Nhà nƣớc, thể hiện bản lĩnh và nhu cầu chính trị của Nhà nƣớc. Ông cho rằng hoạt động tuyên dƣơng sẽ giúp thay đổi địa vị của những ngƣời phụ nữ đƣợc khen ngợi vì đã giúp họ đƣợc xã hội chú ý và danh tiếng. Mặt khác, việc KT nhấn mạnh đến sự tham gia tích cực của phụ nữ trong lao động và đóng góp của họ cho xã hội, đồng thời bỏ qua sự khác biệt về giới tính và vai trò phụ nữ duy nhất của họ [33].
6 Nhà khoa học Phêđôxeép - Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô khi nghiên cứu về công tác TĐ, ông cho rằng “TĐ là sự đọ sức trong lao động và sáng tạo, mang đặc tính của cong người trong xã hội, được sinh ra bởi sự hợp tác lao động và bởi mối quan hệ xã hội của con người trong quá trình lao động sản xuất, ., “TĐ xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ xã hội mới có tính lịch sử, nó mang tính sáng tạo xã hội của giai cấp công nhân, là hành động tự giác của quần chúng lao động – những người đã tổ chức sản xuất xã hội theo kiểu mới trong lao động” [1, tr. Các tác giả Marina Moskowitz và Marlis Schweitzer với bài viết về Tinh thần TĐ (2009), nghiên cứu đã chỉ ra rằng “Quảng cáo chứng thực vẫn là một hình thức tiếp thị nổi bật và phổ biến chiến lược, đây là một trong những hình thức cạnh tranh, tạo sự TĐ giữa các nhà cung cấp sản phẩm; ngay cả ngày nay khi người tiêu dùng ngày càng hiểu biết về các hoạt động thao túng trên thị trường thì yếu tố con người là điểm bán hàng lớn nhất” [31, tr. Nhìn chung, có thể nói công tác TĐKT là khâu quan trọng trong quá trình thực hiện chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc. Từ các nội dung trên cho thấy bƣớc đầu đã có một số tài liệu và những công trình nghiên cứu đƣợc công bố đề cập đến công tác TĐKT.
Đây chính là những nền tảng cơ bản, vững chắc làm căn cứ, làm cơ sở cho việc nghiên cứu và áp dụng lý luận vào thực tiễn ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chƣa có nhiều tài liệu nghiên cứu về QL công tác TĐKT ở Trƣờng THPT. Các nghiên cứu trong nước Ngày 20/01/1946 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban hành 10 điều thƣởng. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên về KT đặt nền móng để QL công tác KT của nhà nƣớc ta.
Ngày 11/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh số 195 thành lập ban vận động TĐ ái quốc là cơ quan tham mƣu giúp Chính phủ QL tổ chức thực hiện công tác TĐKT. Công tác TĐKT có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, là động lực phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội, đặc biệt là giáo dục của một quốc gia. TĐKT là một trong những biện pháp có tác động kích thích ngƣời dƣới quyền làm việc hăng say, 7 có hiệu quả dƣới sự QL của các cơ quan cấp trên và của ngƣời lãnh đạo. Công tác TĐKT là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nƣớc, là lĩnh vực quan trọng trong việc thực hiện các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc, nhiệm vụ chính trị của địa phƣơng, của cơ quan tổ chức.
Đồng thời, là biện pháp cơ bản để đánh giá kết quả công việc, đánh giá những cố gắng, những thành tích, quá trình lao động, cống hiến của tập thể và cá nhân trong xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc [26, tr. Trong Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 03/6/1998 và Luật thi đua khen thƣởng năm 2003 đã khẳng định công tác TĐKT có vị trí, vai trò rất quan trọng: “Làm rõ vị trí, vai trò quan trọng của công tác TĐKT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới, khẳng định vai trò lãnh đạo mới của Đảng và QL Nhà nước đối với công tác TĐKT” [6, tr. Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào TĐ yêu nƣớc, phát hiện, bồi dƣỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến tiếp tục nhấn mạnh vị trí của công tác TĐKT trong tình hình mới: “TĐKT đã tác động tích cực, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ngày càng vững mạnh”. Mặt khác, Đảng ta xác định những nội dung quan trọng, có tác dụng thúc đẩy, tạo sức mạnh, đồng bộ trong tƣ tƣởng, hành động của các cá nhân và tập thể: “Công tác TĐKT tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể nhân dân, CB, Đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tác dụng của phong trào TĐ yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay”.
Điều 12, Luật TĐKT nêu rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: Tuyên truyền, động viên các thành viên của mình và tham gia với các cơ quan có chức năng tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện pháp luật về TĐKT; Tổ chức hoặc phối hợp với các cơ quan nhà nước tổ chức các cuộc 8 vận động, các phong trào TĐ; giám sát việc thực hiện pháp luật về TĐKT. Các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, nêu gương các điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt, cổ động phong trào TĐKT” [19]. Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010; Nghị định số 39/2012/NĐ – CP ngày 27/4/2012; Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/07/2014 của Chính phủ về công tác TĐKT đã cụ thể hóa đƣợc đối tƣợng, nguyên tắc, phạm vi, nội dung, hình thức và các danh hiệu TĐKT; xác định rõ hồ sơ, thủ tục, trình tự KT đƣợc thực hiện theo đúng quy định. Từ đó, tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện tốt phong trào TĐKT, là cơ sở tạo sự thống nhất, bình đẳng trong công tác KT, khắc phục bệnh thành tích, nâng cao hiệu quả, chất lƣợng các hoạt động TĐKT.
Qua đó, giúp các cá nhân trong tổ chức xác định đƣợc vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác TĐKT. Tại Bình Định, công tác TĐKT đƣợc xác định một cách rõ ràng thông qua các Nghị quyết, Quyết định, trong đó có Quyết địnhsửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế công tác TĐKT ban hành kèm theo quyết định số 63/2017/QĐ-UBND ngày 05 tháng 12 năm 2017 của Ủy ban nhân tỉnh Bình Định xác định tại điều 3: “KT phải đảm bảo chính xác, công khai, công bằng, kịp thời và phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được, không nhất thiết phải có hình thức KT mức thấp mới được KT mức cao hơn. Một hình thức KT có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; không tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được; KT phải kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất; chú trọng KT các tập thể, cá nhân trực tiếp lao động, sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu, phục vụ chiến đấu và có nhiều sáng kiến trong lao động, công tác”. Quy chế hoạt động của Khối TĐ Nội chính tỉnh Bình Định; Kế hoạch số 413/KH-BTĐKT ngày 27/11/2020 của Ban TĐ – KT tỉnh hƣớng dẫn tổng kết phong trào TĐ và công tác KT năm 2020 đã tạo động lực mạnh mẽ, động viên các tập thể và đội ngũ CB, chiến sĩ, CC, VC khắc phục khó khăn, đoàn kết chủ động, sáng tạo phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị đƣợc giao.
Bên cạnh những chỉ thị, quyết định, nghị định của Đảng, Nhà nƣớc về công 9 tác TĐKT, đã có một số tác giả nghiên cứu về công tác này. Cụ thể nhƣ sau: Nguyễn Thị Thu Sƣơng trong luận văn, “Nâng cao năng lực đội ngũ CB, CC ngành TĐKT trong giai đoạn hiện nay” (2007), đã phân tích thực trạng của đội ngũ CB CC làm công tác TĐKT, trên cơ sở đó đƣa ra các kiến nghị nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ CB trong lĩnh vực này.