CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THI CÔNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại dự án đầu tư xây dựng.1 Khái niệm: Luật Xây dựng được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 đã định nghĩa: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định”.2 Đặc điểm của dự án Các dự án xây dựng công trình có các đặc điểm: - Có mục tiêu và mục đích tổng hợp: Mục tiêu và mục đích công khai (ngỏ) như các mục tiêu kỹ thuật, qua đó đự án giới thiệu công nghệ mới hoặc hệ thống thích hợp chop quản lý dự án. Cũng có thể có mục tiêu về cơ cấu, qua đó thực hiện một cơ cấu tổ chức hỗ trợ công nghệ mới. Mục tiêu công khai được nêu rõ từ khi xậy đựng dự án nhằm cơ cấu và dẫn đến những thay đổi tốt nhất cho tổ chức. Mục tiêu và mục đích kín (dấu) như các mục tiêu giảm tối thiểu chi phí, đạt tối đa lợi nhuận, xây dựng thương hiệu tối đa,.
- Có tính phức tạp: Tính phức tạp thể hiện ở các khâu: + Có nhiều hoạt động liên quan đến nhau. + Thực hiện dự án liên quan đến nhiều người. + Thực hiện dự án phải qua nhiều chức năng. - Có tính duy nhất: Dự án có mục tiêu, có nhiệm vụ, có người tham gia cụ thể, có lịch trình tiến hành xác định và nhiều vấn đề khấc nhau nữa.
- Có tính thời đoạn: Dự án có mục tiêu, có nhiệm vụ, có người tham gia cụ thể, có lịch trình tiến hành xác định và nhiều vấn đề khác nhau nữa. 5 - Có tính biến động và sự không chắc chắn: + Có những thay đổi đo khách hàng yêu cầu, có những thay đổi do người quản lý đặt ra có những thay đổi do có sự phát triển khoa học công nghệ, v.v + Có những thay đổi do môi trường làm việc tạo nên.3 Phân loại dự án: Dự án đầu tư xây dựng công trình được phân loại: - Theo quy mô và tính chất: dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C (Phụ lục số 1, Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2009). - Theo nguồn vốn đầu tư, dự án được chia ra theo: + Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; + Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; + Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; + Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn.2 Quản lý dự án xây dựng 1.1 Khái niệm: Có thể thể hiện khái niệm quản lý dự án như sau: - Quản lý dự án xây dựng là sự điều phối và tổ chức các bên khác nhau tham gia trong việc thực hiện dự án nhằm hoàn thành dự án theo những hạn chế về thời gian, chi phí và chất lượng. - Quản lý dự án xây dựng là việc lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát một dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nhằm bảo đảm sự hoàn thành đúng hạn trong phạm vi chi phí và các yêu cầu kỹ thuật đã xác định về phương thức và chất lượng thực hiện.
6 Có thể thể hiện quản lý dự án theo mô hình Sơ đồ: Phạm vi Chất lượng Chất lượng Ngân sách Thời gian Chất lượng Hình 1.1 Sơ đồ quản lý dự án (Nguồn Giáo trình Quản lý dự án) Phạm vi được hiểu là công việc phải hoàn thành bao gồm số lượng và chất lượng các công việc. Ngân sách là mọi liên quan đến chi phí cho các hoạt động của dự án, xác định bằng tiền và nhân công. Thời gian đề cập đến trình tự công việc và thời gian phải sử dụng cho từng công việc trong toàn bộ dự án. Ba yếu tố phạm vi, ngân sách, thời gian gắn kết chặt chẽ với nhau.
Từng khâu lại có yêu cầu chất lượng riêng của từng yếu tố nhưng yếu tố nọ quản lý kém, hoặc chựa đáp ứng các yêu cầu sẽ làm ảnh hưởng đến khâu khác. Chất lựợng được hiểu là sự đáp ứng các yêu cầu của chủ đầu tư trên các mặt xác định.2 Các hình thức quản lý dự án xây dựng: Quản lý dự án được lựa chọn theo hai hình thức, tuỳ thuộc năng lực của tổ chức, cá nhân và yêu cầu của dự án phải thực hiện. Người quyết định đầu tư xây đựng công trình là người quyết định hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. - Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thì chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án.
Ban Quản lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo yêu cầu của chủ đầu tư. 7 Ban Quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà Ban Quản lý dự án không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của chủ đầu tư. Đối với dự án có quy mô nhỏ, đơn giản có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng thì chủ đầu tư có thể không lập Ban Quản lý dự án mà sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để quản lý, điều hành dự án hoặc thuê người có chuyên môn, kinh nghiệm để giúp quản lý thực hiện dự án. - Trường hợp chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án thì tổ chức tư vấn đó phải có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án.
Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thoả thuận giữa hai bên. Tư vấn quản lý dự án được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn tham gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký với chủ đầu tư. Khi áp dụng hình thức thuê tư vấn quản lý dự án, chủ đầu tư vẫn phải sử dụng các đơn vị chuyên môn thuộc bộ máy của mình hoặc chỉ định đầu mối để kiểm tra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án.3 Chu trình của dự án xây dựng Dự án được thực hiện theo chu trình 5 bước: - Khởi đầu: quy định ngày khởi công và mọi cam kết thực hiện. - Lập kế hoạch thực hiện dự án: Xác định các mục tiêu cho từng công tác, từng giai đoạn và xác lập các mô hình thực hiện từng công tác, từng giai đoạn.
- Tổ chức thực hiện: Huy động các nguồn lực đưa vào sản xuất theo kế hoạch đã định, phối hợp các nguồn lực nhằm đạt các mục tiêu đã xác lập trong bước lập kế hoạch. - Kiểm tra: Đối chiếu sự thực hiện với kế hoạch về các mặt chất lượng sản phẩm, chi phí sử dụng và thời gian tương ứng. Khi cần thiết phải thực hiện các phép điều chỉnh theo nguyên tắc bám sát vào khung đã định trong kế hoạch nhằm đạt được các mục tiêu đã định. - Kết thúc: Làm các thủ tục chấp nhận từng bước và tổng thể những việc đã hoàn tất của dự án.2 Quản lý thi công công trình xây dựng 1.1 Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình 8 Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng.
Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt. Đối với công trình xây dựng có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến độ xây dựng công trình phải được lập cho từng giai đoạn theo tháng, quý, năm. Thời gian ước tính hoàn thành của dự án được sơ bộ xác định trong bước lập dự án đầu tư xây dựng công trình. Khi dự án được duyệt cho thực hiện, chủ đầu tư phải lập kế hoạch tổng thể, nhằm điều phối các bên tham gia dự án thực hiện mục tiêu hoàn thành dự án đúng thời hạn.
Đó là kế hoạch phối hợp tổng thể. Quản lý tiến độ thi công cần phải nắm vững các tư liệu, số liệu kỹ thuật, tự nhiên của địa điểm thi công công trình. Dựa vào hồ sơ thiết kế công trình, quy định thời gian khởi công và hoàn thành công trình, dự toán, định mức lao động, biện pháp thi công, nhu cầu sử dụng lao động, xe máy, thiết bị thi công để lập kế hoạch tiến độ thi công. Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo đảm phù hợp với tổng tiến độ của dự án.
Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án. Trường hợp xét thấy tổng tiến độ của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư để đưa ra quyết định việc điều chỉnh tổng tiến độ của dự án. Khuyến khích việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng trên cơ sở bảo đảm chất lượng công trình. Trường hợp đẩy nhanh tiến độ xây dựng đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án thì nhà thầu xây dựng được xét thưởng theo hợp đồng.
Trường hợp kéo dài tiến độ xây dựng gây thiệt hại thì bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại và bị phạt vi phạm hợp đồng. Thông thường sử dụng Sơ đồ mạng PERT/CPM và biểu đồ GANTT để xác định các hoạt động của dự án. Tuy nhiên, hiện nay Chủ đầu tư và nhà thầu sử dụng công cụ hữu hiệu trong điều khiển kế hoạch tiến độ là chương trình Microsoft Project .2 Quản lý chất lượng công trình.