Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁCQUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ THUỘC HỆ THỐNG YTDP 1. Cơ sở lý luận về công tácquản lý tài chính tại các đơn vị thuộc hệ thống YTDP 1. Đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị thuộc hệ thống YTDP: 1. Đơn vị sự nghiệp công lập và đặc điểm của Đơn vị sự nghiệp công lập ĐVSNCL là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, đó là những hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội, những hoạt động này mang tính chất phục vụ là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận.
Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP Y học dự phòng hay Ytế dự phòng, phòng ngừa bệnh tật, là một lĩnh vực Y tế liên quan đến việc thực hiện các biện pháp để phòng bệnh. Song song với Y học điều trị, Y học dự phòng chịu trách nhiệm triển khai thực hiện, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu và chính sách thúc đẩy và bảo vệ sức khỏe (để giảm xác suất xuất hiện bệnh hoặc ngăn chặn sự tiến triển hoặc kiểm soát của nó) giám sát vấn đề sức khỏe của người dân, xác định nhu cầu sức khỏe của họ và lập kế hoạch, quản lý và đánh giá các DVYT. YTDP bao gồm năm lĩnh vực hoạt động cụ thể (lĩnh vực chuyên môn) là dịch tễ học, quản lý y tế, y học dự phòng, y học môi trường và nghề nghiệp, và nâng cao sức khỏe. Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và chịu sự quản lý của Nhà nước trong mọi hoạt động theo chức năng nhiệm vụ, đây là một loại hình ĐVSNCL thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về YTDP và cung cấp dịch vụ công.
Đặc điểm của các đơn vị thuộc hệ thống YTDP: - Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, được NSNN đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao; được sắp xếp lại, củng cố và ổn định tổ chức để nâng cao hiệu quả hoạt động. 5 - Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP chịu sự quản lý của Nhà nước về chuyên môn của Bộ Y tế, chịu sự quản lý hành chính về lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, nơi đơn vị đặt trụ sở. - Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng ở hệ thống Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng, được bảo đảm trước pháp luật về hoạt động của tổ chức. - Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP hoạt động trong lĩnh vực YTDP theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận.
Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động YTDP phục vụ QLNN nhằm thể hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước là cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng cho xã hội. Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi ích về mặt xã hội thông qua các chủ thể trong xã hội khi sử dụng dịch vụ công được hưởng lợi ích nhiều hơn so với chi phí phải chi trả. - Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP có nguồn thu tài chính chủ yếu dưới hai dạng: NSNN cấp và nguồn thu từ các dịch vụ YTDP. Căn cứ dự toán được giao, Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP thực hiện chi hoạt động theo các tiêu chuẩn định mức, chế độ của nhà nước và quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
Vai trò của Các đơn vị thuộc hệ thống YTDP: Nền kinh tế nước ta đang phát triển theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Trong quá trình đó yếu tố con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, nên việc chăm lo đầy đủ đến việc phát triển con người phải thông qua việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bằng cách nuôi dưỡng, bảo toàn thể lực, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Có như vậy mới đảm bảo được nền tảng vững chắc về sự phồn vinh, thịnh vượng, thực hiện được chiến lược phát triển con người: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Nhiệm vụ của các đơn vị thuộc hệ thống YTDP phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Tổ chức cung cấp dịch vụ YTDP theo đúng phạm vi chuyên môn, quy chuẩn kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới trong việc phòng, chống dịch và dập dịch, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động phòng bệnh, khám bệnh theo đúng quy định của pháp luật, phục vụ nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. 6 - YTDP có vai trò đặc biệt quan trọng đối với xã hội: Như chúng ta đã biết, mỗi năm, hàng triệu người chết do gặp phải những căn bệnh mà có thể phòng ngừa được. Một nghiên cứu vào năm 2004 cho thấy khoảng một nửa số ca tử vong ở Mỹ trong năm 2000 là do hành vi không phòng ngừa. Nguyên nhân hàng đầu bao gồm bệnh tim mạch, bệnh mãn tính, bệnh đường hô hấp, chấn thương không chủ ý, tiểu đường và các bệnh truyền nhiễm nào đó.
Nghiên cứu này cũng ước tính rằng 400.000 người chết mỗi năm tại Hoa Kỳ do chế độ ăn uống nghèo nàn và một lối sống ít vận động. Theo ước tính của WHO, khoảng 55 triệu người chết trên toàn thế giới trong năm 2011, hai phần ba của nhóm này từ bệnh không lây nhiễm, bao gồm cả ung thư, tiểu đường, bệnh mãn tính về tim mạch và các bệnh về phổi. Đây là một sự gia tăng so với năm 2000, trong đó 60% số ca tử vong do các bệnh trên. Vì vậy, CSSK dự phòng là đặc biệt quan trọng nhằm giảm sự gia tăng số người tử vong trên toàn thế giới do gặp những căn bệnh mãn tính.
Để làm được điều đó, cần có chiến lược YTDP cụ thể. Chiến lược YTDP thường được mô tả theo các cấp từ thấp lên cao bao gồm dự phòng ban đầu, dự phòng cấp I, dự phòng cấp II, dự phòng cấp III: + Dự phòng ban đầu, Dự phòng cấp 1: Tác động vào thời kì khỏe mạnh, nhằm làm giảm khả năng xuất hiện của bệnh, hay chính là giảm tỷ lệ mới mắc, muốn đạt được điều đó thì phải tăng cường các yếu tố bảo vệ, loại bỏ các yếu tố nguy cơ. Ví dụ: Tăng cường sức khỏe nói chung bằng tập luyện thể dục thể thao, sinh hoạt ăn uống điều độ hợp vệ sinh. Chính là tăng cường các yếu tố bảo vệ không đặc hiệu, tiêm chủng vắc xin phòng bệnh là tạo ra các yếu tố bảo vệ đặc hiệu.
Không hút thuốc lá, bỏ hút thuốc chính là loại bỏ yếu tố nguy cơ của ung thư phổi, của các bệnh tim mạch… + Dự phòng cấp 2: Phát hiện bệnh sớm, khi bệnh mới chỉ có các dấu hiệu sinh học, chưa có biểu hiện lâm sàng, khi phát hiện được bệnh thì tiến hành can thiệp kịp thời sẽ ngăn chặn sự diễn biến tiếp tục của bệnh; tùy theo mỗi bệnh và điều kiện y tế cho phép có thể thực hiện các chương trình phát hiện bệnh khác nhau ở những quần thể khác nhau. sẽ làm giảm tỷ lệ hiện mắc, giảm tỷ lệ tử vong.Ví dụ phát hiện sớm cao huyết áp (một yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch), dò tìm ung thư. + Dự phòng cấp 3: Là điều trị bệnh hợp lý nhằm ngăn chặn những diễn biến 7 xấu hay biến chứng của bệnh, hồi phục sức khỏe cho người bệnh. Với bệnh truyền nhiễm điều trị triệt để cho người bệnh là loại bỏ nguồn truyền nhiễm quan trọng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
- Vai trò của YTDP đối với ngành Y tế Việt Nam: Như chúng ta đã biết, các thách thức trong công tác CSSK nhân dân hiện nay đó là: tình trạng chênh lệch về các chỉ số sức khỏe cơ bản giữa thành thị và nông thôn, giữa các khu vực và các nhóm đối tượng trong những năm gần đây vẫn chưa được cải thiện nhiều. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể nhẹ cân đã giảm nhanh song tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn ở mức cao. Trong khi đó, tỷ lệ béo phì ở trẻ em dưới năm tuổi đang tăng nhanh trong những năm gần đây. Đáng chú ý, hiện nay, gánh nặng do các bệnh lây nhiễm (sốt rét, sốt xuất huyết…) vẫn ở mức cao, ngày càng khó kiểm soát thì sự xuất hiện các dịch bệnh mới nổi, trong đó chủ yếu là các bệnh lây truyền từ động vật sang người như: H5N6, H7N9, Mers-CoV, Ebola… là một thách thức lớn đối với hệ thống y tế.
Sự thay đổi cơ cấu gánh nặng bệnh tật, tử vong với sự gia tăng tỷ lệ các bệnh không lây nhiễm không chỉ gây nên gánh nặng về bệnh tật và kinh tế cho cả bản thân người bệnh và gia đình mà còn tạo nên gánh nặng cho hệ thống y tế cũng như toàn xã hội. Bệnh không lây nhiễm không chỉ gia tăng ở các quần thể dân cư thành thị có điều kiện kinh tế phát triển mà cả người nghèo ở vùng nông thôn. Mặt khác, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, bao gồm: các yếu tố nhân khẩu (quy mô và tốc độ gia tăng dân số, già hóa dân số, mất cân bằng giới tính khi sinh, di cư); các yếu tố KTXH (lao động, việc làm, thu nhập, đói nghèo, nhà ở, giáo dục - đào tạo, tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa); các yếu tố môi trường tự nhiên (biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm môi trường, thiếu nước sạch và công trình vệ sinh, ô nhiễm thực phẩm) và các yếu tố hành vi, lối sống (hút thuốc lá, sử dụng rượu, bia quá mức, chế độ ăn không hợp lý, ít hoạt động thể lực, nghiện ma túy, mại dâm…). Để ứng phó với mô hình bệnh tật thay đổi với gánh nặng bệnh tật kép của bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, đòi hỏi hệ thống y tế phải có những đáp ứng, thay đổi phù hợp cả về tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ và khả năng cung ứng dịch vụ.
Trong đó, YTDP không chỉ làm tốt nhiệm vụ phòng bệnh truyền nhiễm mà còn phòng 8 cả bệnh không lây nhiễm, thông qua dự phòng các yếu tố nguy cơ. Như vậy, chúng ta phải tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt quan điểm dự phòng trong lập kế hoạch và đầu tư cho các chương trình y tế.