Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN QUẦN LÍ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TẠI MỘT SO TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN ĐÔNG PHU - TINH BÌNH PHƯỚC I. Lịch sử nghiên cứu vẫn dé 1.1 Tinh hình nghiên cứu về phương pháp day học tích cực và quản lí phương pháp dạy học tích cực ở nhà trường trên the giới - Thời cổ đại đã xuất hiện PPDH tích cực: PPDH Ocristic của Xocrat. Ocristic là PP giải quyết vẫn dé dựa vào tri thức kinh nghiệm hơn là lập luận duy li. Từ “Qeristic” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lap “Eureka” ngụ ý “vận dụng tri thức kinh nghiệm giún cho việc sang tạo ”[I 1].
- Đến thé ky XVII: J.Komenxki trong tác phẩm “Li luận dạy hoe” lan dau tiên trong lịch sử giao dục đã nêu ra “tinh tự giác, tỉnh tích cực la một trong những nguyên tắc day học”. Cùng thời gian nay J.Rutx6(1712 - 1778) (nha giáo dục học người Pháp) chủ trương phải lam cho trẻ tích cực, dành lay kiến thức bằng con đường khám pha ra nó. - Cuỗi thé kỷ XIX đầu XX nhờ sự thành công của phong trào nha trường mới tích cực ở Châu Âu, van dé day học tích cực đã được nhiều nha giáo dục va tâm li nghiên cứu vận dụng.Dewey đã thành lập “nhà trường tích cực” và phát triển cách học tập theo nhóm của HS. Dewey để ra một phương thức khoa học dé giải quyết van dé, Ông gọi phương thức nảy là “Phương thức Tir duy Toàn diện" bao gồm 5 bude sau: + Bước | Gap một tỉnh huỗng "có vấn đề": Khi sinh hoạt thường xuyên của ta gap một tình huỗng mới, không giống với những gi ta đã từng kinh nghiệm, va tinh huồng mới nay lại chặn đứng sinh hoạt thường xuyên của ta.
+ Bước 2 Xác định vẫn dé: trong bước thứ hai nay, ta cẩn xét thật kỹ xem "vẫn dé" ta gặp thực sự là gì bằng cách dừng lại, suy xét tinh huỗng. Người học nếu không xác định đúng vẫn để, chắc chan sẽ không giải quyết được. | Bước 3 Nghiên cứu, thăm đỏ, điều tra van để: ta cô thé rút từ kinh nghiệm các bai học qua khử dé xem van dé mới này có chỗ nao giống với vẫn dé cũ không. Nếu không, ta phải tim tôi trong sách vở hay tham khảo với bạn bẻ để nằm vững các đặc tỉnh của vẫn đề.
+ Bước 4 Đưa ra một số các giả thuyết và phương thức giải quyết: sau khi đã nghiên cứu thật can thận van đẻ cần giải quyết, ta có the dé ra nhiều giả thuyết, va từ những giả thuyết này, đưa ra những phương thức giải quyết. + Bước 3 Chon một phương thức va thứ nghiệm xem tinh hiệu qua của nhương thức này: sau khi đã chọn xong phương thức, ta can phải thử nghiệm xem phương thức nảy có mang lại hiệu quả va đã giải quyết được van dé đưa ra. Hy vọng rằng hành động của ta giải quyết được van dé đưa ra, va ta có thé tích lũy thêm vào kho kinh nghiệm của minh và tiễn bước. Nếu không giải quyết được van dé đặt ra, ta phải xem lại trong tiến trình đã qua có chỗ nào sơ sót hay không, roi tiếp tục.
Điều cân phi nhớ là phương thức này chỉ được coi là toàn điện khi bước thứ 5 được thực hiện. - — "Phương thức te duy taàn diện" nhẫn mạnh đến việc thực hanh, những kiến thức ta thu thập được từ trước trong các bước 2, 3 va 4, chỉ là những kiến thức va lí thuyết suông. Điểm khác biệt lớn nhất của PPDH nay với PPDH “giải quyết van dé” hiện nay là ở bước thử 5, hiện nay PP “giải quyết vẫn dé” chỉ dừng lại ở: tìm ra van đẻ, cách thức giải quyết van dé va kết luận. PPDH “giải quyết van dé” chưa nhắn mạnh chọn một phương thức giải quyết vẫn dé va thử nghiệm hiệu quả của phương thức đỏ.Dewey, nha giáo dục Đức Kerschensteiner( 1854-1932) tiếp tục thực hiện những nguyên tắc của nha trường tích cực vào việc cải cách nha trường trung học va tiểu hoc.
Ong chỉ ra rằng những hoạt động chung chang những hình thành tỉnh thần trách nhiệm cả nhân trong lương tâm của mỗi con người mả còn loại bỏ được tat cả những hành động gây ra bởi những động cơ có tinh chat ích kỷ, dong thời hinh thành cho con người những thỏi quen tốt va tinh thắn xã hội. Điểm đặc biệt trong cách giáo dục của Kerschensteiner là Ong quan tâm đến cach tổ chức hoạt động nhóm, nếu vận dụng không đúng đổi khi có thể hình thành nhỏm hoc tập đặc thủ của sự ích ky đỏ là “ich ky cộng dong”, sau một thời gian làm việc chung, nhỏm đã trở thanh một ca thé va vi quyền lợi, vì ganh đua cả thé do lại ich kỷ. Kerschensteiner muỗn phát triển toàn bộ năng lực của đứa trẻ, phát triển một năng lực tự quan, tự kiểm soát. Tuy vậy những quan điểm dang quỷ đó còn chưa được phổ biển rộng rãi, vì nhiều lí do khắc nhau nên trong suốt một thời ky dài nhà trường cễ truyền vẫn áp dat lỗi dạy áp đặt, coi HS như một cá thé thụ động chỉ biết tiếp nhận một chiều vi vậy cuộc cách mạng về PPDH tích cực chưa có được những bước tiễn.
- Ở Pháp, năm 1920 hình thành những nha trường mới, mô hình nhà trường mới đặt trọng tâm vào vẫn dé phát triển năng lực trí tuệ của trẻ, khuyến khích các hoạt động tự quản của HS. Xu hướng này đã ảnh hưởng sang Mỹ va nhiều nước ở Châu Âu. Ngay sau chiến tranh thé giới thir 2, trên nước Pháp đã ra đời những lớp học mới. Những lớp học này được áp dụng tại một số trường trung học thí điểm, điểm xuất phát của mỗi hoạt động day học đều tủy thuộc va sáng kiến, hứng thú, lợi ích, nhu cau của HS; GV là người giúp đỡ phối hợp cùng các hoạt động của HS hưởng vào sự phát triển nhân cách của HS.
Nhung thi điểm nay chỉ duy tri được 7 nãm, tuy có những ý tưởng rat tien hộ. - O Nga vẫn dé phát huy tính tích cực nhận thức của các HS cảng được quan tâm của nhiều nha nghiên cứu. Nhiều tac giả như Aristova, L.Xcatkin đã nghiên cứu cách phát huy tính tích cực của HS vẻ hoan thiện nội dung dạy học, hoàn thiện các PPDH va hoàn thiện những PP tổ chức dạy học. Một SỐ Xu hưởng mới trong DH cũng được để cập tới như “day chương trinh hóa”, “day học nêu van đề”, “ dạy học algorit".
- Dựa vào những thánh tựu của khoa học tâm lí va giáo dục hiện đại từ những năm 20 của thể ky XX nhà trường tiên tiễn ở các nước trên the giới đã trải qua một cuộc cách mạng về PP giáo dục và thường được gọi là cuộc cách mạng Cô-pec-mic trong giáo dục. PP giáo dục này được gọi là PP giáo dục tích cực. - Trong những năm dau của the kỷ XXI PPDH tiếp tục phát triển, mục đích giao dục không chi lả trang bị học van ma còn phát triển nang lực. Tử dé xuất hiện PPDH theo mục tiêu, với chương trình được thiết kế theo khả năng của cá nhân người học, với sự nhắn mạnh vẻ hình thanh PP được coi như mục tiêu dạy học.
HS được trang bị một cách hệ thống tri thức vả công cụ trí tuệ cho phép giải quyết thành công những van dé, hoàn thành những mục tiêu đẻ ra.2 Tình hình nghiên cứu về phương pháp đạy học tích cực và quản lí phương pháp dạy học tích cực ở nhà trường tại Việt Nam - Ở nhà trường Việt Nam, vẫn dé phát huy vai trò chủ thé tích cực của HS là một van dé còn khá mới mẻ. Do ảnh hưởng của điều kiện lịch sử va kinh tế, suốt một thời gian dai, nền giáo duc nước ta gặp nhiều khó khăn, nên chưa bắt kip bước tiễn của xu thé giáo dục trên thé giới. Tuy nhiên, với nỗ lực xây dựng nên giáo dục dan chủ va xã hội chủ nghĩa, kể từ ngay Cách mang tháng 8/1945 thành công, chủng ta đã nêu lên những quan điểm tiễn bộ vẻ vai tro của người học qua việc xác định mục tiêu đảo tạo của nha trường va từ cac phong trao cải tiễn nội dung, PPDH. Chúng ta nhận ra can doi mới nên giáo dục của nước nha dé hoà nhập vao sự phát triển của ca thé giới, nhanh chóng lam cho nha trường thoát ra những rao can của sự lạc hậu, đặc biệt là việc vận dụng PPDH.
Với phương châm “thay chủ dao, trỏ chủ động”, các nhà sư nhạm đã thể hiện nhiễu nhận thức tiễn bộ về vai trò của HS. Dù sao, những nỗ lực đó cũng chỉ la những khởi động bước dau, nang tinh kinh nghiệm, tự phat nên hiệu quả còn hạn chế. Điều đó giải cho lý do PPDH tích cực chưa được giáo viên và học sinh vận dụng thường xuyên khắc phục lỗi dạy truyền thông. - Trong thời ki đổi mới, xã hội doi hỏi tiến hành cuộc cải cách giáo dục toàn diện, chúng ta nhìn nhận lại sư tri trệ kéo dai trong nhà trường do lỗi giáo dục giáo điều, xơ cứng.
Trong xu thể mở cửa tiếp nhận thành tựu từ các nền giáo dục tiên tiễn trên thể giới, nhà trường Việt Nam bắt đầu vận dụng những quan điểm DH hiện đại, PPDH tich cực được coi lả một trong những nhân tổ mới - có vai tr quan trọng: cải tiễn và thúc day nha trường phát triển, gan kết nha trường với những phát triển nhanh của khoa học công nghệ, nhằm đảo tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho xã hội. Từ day, việc xác định mục tiêu, nội dung va PP dao tạo được hoạch định bài bản và có hệ thông. Đặc biệt van đề nổi bật trong đổi mới hoạt động giáo dục đảo tạo là việc xác định vai trỏ chủ thể của người học: người học được xem 1a nhân vật trung tam của nhà trường với những phẩm chat, năng lực của những cá thể - trỏ - tự giác, chủ động, tích cực tham gia vào qua trình dạy học. - Ở nước ta PPDH tích cực đã được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu.
Đặng Vũ Hoạt đã cho rằng “PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của thay và trò trong quả trình dạy học, được tién hành dưới vai trỏ chủ đạo của thay, nhằm thực hiện các nhiệm vu dạy học”[6|. Chưa làm rõ vai tro chủ động tích cực của HS nhưng Ong đã khang định PPDH Ia tổ hợp các cách thức tương tác giữa thay vả cụ thé xác định vai trỏ cua người thay trong quả trình day học.