Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHỐI HỢP ĐÀO TẠO THỰC HÀNH NGHỀ GIỮA CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ VỚI CƠ SỞ SẢN XUẤT 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài - Cộng hòa liên bang Đức Ở Cộng hòa Liên bang Đức, hệ thống đào tạo nghề là sự kết hợp giữa việc học trong một môi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của công ty và một cơ sở có năng lực chuyên môn về sư phạm và nghiệp vụ dạy nghề của các trường nghề, theo đó các công ty tập trung vào việc cung cấp các kiến thức và kỹ năng thực tế, đặc biệt là kiến thức và kỹ năng phù hợp với công nghệ sản xuất của Công ty, còn các nhà trường cung cấp khối kiến thức lý thuyết về cơ bản nhiều hơn. Do phát triển trên hai nền tảng kết hợp như vậy, nên hệ thống đào tạo nghề này còn gọi là hệ thống đào tạo nghề kép [theo 26].
Mô hình đào tạo nghề kép còn gắn liền với cơ chế quản lý hệ thống đào tạo nghề ở Đức. Chẳng hạn: Chính quyền Bang chịu trách nhiệm quản lý trường nghề và chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý đào tạo nghề tại công ty. Việc dạy nghề tại công ty đều do các công ty trực tiếp tổ chức, song việc kiểm soát lại do công đoàn cùng với sự tham gia của các quan sát viên và hội đồng công nhân tại công ty thực hiện. Hệ thống đào tạo nghề kép được điều chỉnh bởi nhu cầu cung cấp vị trí đào tạo của các công ty.
Các công ty là người quyết định số lượng công nhân được đào tạo và đào tạo theo chuyên ngành nào. Công ty được quyền tự do lựa chọn các ứng cử viên được tham gia đào tạo. - Na Uy Na Uy là quốc gia sở hữu nhiều mô hình dạy nghề tiên tiến trên thế giới, giầu kinh nghiệm trong việc quản lý hệ thống dạy nghề [theo 26]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mô hình chung của đào tạo nghề ở Na Uy là “2+ 2”, nghĩa là 2 năm học đại cương và 2 năm học nghề tại nhà máy hoặc DN, Ngoài ra, dựa trên mô hình chung này, các tổ chức đào tạo nghề Na Uy đã thiết lập và xây dựng thêm nhiều mô hình biến thể linh hoạt và uyển chuyển như “mô hình 1+ 3”, (1 năm học tại trường và 3 năm học nghề), “mô hình 0 + 4” (cả 4 năm đều học nghề),… Các cơ sở dạy nghề ở Na Uy có được sự liên kết chặt chẽ đối với các đối tượng liên quan.
Đặc biệt là có sự hợp tác ba bên chặt chẽ của tổ chức giới chủ, Công đoàn và đại diện cơ quan giáo dục từ cấp quốc gia, đến cấp tỉnh và địa phương. Ở Na Uy, những người lựa chọn con đường học nghề sẽ ký hợp đồng với một công ty mà công ty này phải được cơ quan có thẩm quyền công nhận là DN đào tạo. Trong khoảng thời gian 2 năm thực hành về một ngành nghề cụ thể, DN cần phải đảm bảo nguyên tắc: Năm 1 các công nhân lành nghề sẽ hướng dẫn về kỹ thuật, năm 2 giảm bớt hướng dẫn, tăng việc tự học. Học viên sẽ được hưởng lương học việc trong cả 2 năm học.
Sau khi kết thúc học việc, học viên sẽ được trao chứng chỉ và bắt đầu có thể tìm kiếm việc làm. - Trung Quốc Ở Trung Quốc hiện nay là kinh nghiệm “Ba trong một” [theo 26]: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ. Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các các sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Hiện tại, việc dạy nghề ở Trung Quốc do các Bộ Giáo dục và lao động quản lý, nhưng các doanh nghiệp được khuyến khích “đào tạo nghề” cho chính công nhân của mình.
Những năm qua, những khóa đào tạo ngắn hạn đã cho ra lò cấp tốc hàng trăm triệu công nhân đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các công ty, doanh nghiệp. - Thái Lan Ở Thái Lan Chính phủ đã nghiên cứu và xây dựng “Hệ thống hợp tác đào tạo nghề” để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động và hướng tới phát triển nhân lực ký thuật trong tương lai [theo 26]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệm quản lý đào tạo ghề của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễn đào tạo nghề ở Việt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ở Việt Nam Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã nêu: “Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội, có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo” [7, 217].
Luật dạy nghề nước ta quy định trong chương V, Điều 55 qui định Quyền của doanh nghiệp trong hoạt động dạy nghề [23], trong đó: Doanh nghiệp được tổ chức dạy nghề cho người lao động để làm việc cho doanh nghiệp, được liên doanh, liên kết với cơ sở dạy nghề để tổ chức dạy nghề cho người lao động, được cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề, cơ sở dạy nghề mời tham gia Hội đồng thẩm định chương trình, giáo trình dạy nghề; giảng dạy, hướng dẫn thực tập tay nghề và đánh giá kết quả học tập của người học nghề; tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, đánh giá kỹ năng nghề quốc gia đối với những nghề liên quan đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp…. Nghĩa vụ của DN trong hoạt động dạy nghề là cung cấp thông tin về ngành nghề, nhu cầu đào tạo và sử dụng lao động của DN cho cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề. Tiếp nhận người học nghề đến tham quan, thực tập kỹ năng nghề tại DN thông qua hợp đồng với cơ sở dạy nghề. Điều lệ các trường dạy nghề quy định tai chương 2, Điều 6 quy định một trong những nhiệm vụ của nhà trường là phối hợp với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề [3].
Để đào tạo được đội ngũ lao động có chất lượng phù hợp với yêu cầu của sản xuất trong điều kiện khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng hiện nay thì việc phố i hơ ̣p đào tạo giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất đang được các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước quan tâm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cho đến nay, đã có những công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học đề cập trực tiếp đến vấn đề kết hợp đào tạo thực hành tại cơ sở đào tạo nghề và CSSX. Điển hình là: Đề tài nghiên cứu: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất” Trong đề tài này, tác giả đã phân tích một số hình thức kết hợp. Trên cơ sở nghiên cứu ở các nước Mỹ La Tinh và đào tạo nghề song tuyến ở CHLB Đức, tác giả đã đề xuất thực hiện một số mô hình kết hợp ở Việt Nam.
Tuy nhiên, công trình chưa có điều kiện để đề cập đến các vấn đề như: Cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề, phương thức kết hợp đào tạo nghề, các điều kiện, nguyên tắc, phương pháp thực hiện, quy trình kết hợp, các giải pháp để thực hiện kết hợp đào tạo nghề. Năm 2004, Trường Trung cấp kỹ thuật xây dựng Hà nội có đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố “Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà nội trong lĩnh vực xây dựng” [34]. Trong đề tài tác giả đã phân tích mô hình đào tạo kép ở CHLB Đức, mô hình đào tạo “luân phiên” (Alternation) ở Pháp và đưa ra một số giải pháp trong việc kết hợp đào tạo giữa CSDN với các đơn vị sản xuất. Tuy nhiên, đề tài chưa có điều kiện để phân tích các vấn đề như: Các cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề, chưa nêu được mô hình kết hợp đào tạo nghề như ở các nước Châu Á như: Trung Quốc, Thái Lan… mà tập trung vào đào tạo mô hình luân phiên của Viện đào tạo luân phiên về xây dựng và các công trình công cộng (LABTP) ở cộng hoà Pháp.
Giải pháp đề ra chủ yếu tập trung vào: “Quan hệ giữa nhà trường và đơn vị sản xuất” chưa đi sâu vào vấn đề kết hợp đào tạo. Trong luận án tiến sỹ của tác giả Trần Khắc Hoàn đã giải quyết vấn đề “Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường và các đơn vị sản xuất” [18]. Là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo. Song do hướng nghiên cứu của đề tài nên tác giả chưa phân tích các cơ sở khoa học, chỉ đề cập đến cách thức tiến hành tăng cường quan hệ của Nhà trường với các đơn vị sản xuất một cách đơn phương, chưa đề cập phương thức kết hợp đào tạo tổng quát ở Việt nam, chưa đưa ra các giải pháp đồng bộ để thực hiện kết hợp đào tạo nghề Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại cơ sở đào tạo nghề và DNSX (do nhiệm vụ đề tài là tập trung giải quyết các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo CNKT xây dựng thủ đô Hà nội nên không đi sâu vào giải quyết lý luận và thực tiễn phối hợp đào tạo nghề).
Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu khả năng và điều kiện nhằm vận dụng những yếu tố của hệ thống dạy nghề song tuyến của Cộng hòa liên bang Đức vào các trường dạy nghề trực thuộc Xí nghiệp của Việt Nam”. Trong đề tài này, tác giả phân tích mô hình dạy nghề kép (Dual System) ở Cộng hòa liên bang Đức và vận dụng một số yếu tố phù hợp vào các trường dạy nghề trực thuộc Xí nghiệp của Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề đưa ra chỉ tập trung trong phạm vị các trường trực thuộc Xí nghiệp. Năm 2005 Hoàng Ngọc Trí với luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật ở thủ đô Hà nội” [31].
Có đề cập đến mối quan hệ giữa trường nghề và đơn vị sản xuất.