phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính luận văn được trình bày: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông theo quan điểm chuẩn hóa. Chƣơng 2: Thực trạng việc quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định theo quan điểm chuẩn hóa. LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO QUAN ĐIỂM CHUẨN HÓA 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu đến các vấn đề về quản lý ĐNGV trên cơ sở lý luận và thực tiễn dưới góc độ quản lý vĩ mô và vi mô. Nhiều Hội thảo khoa học về quản lý ĐNGV đã thực hiện dưới sự quản lý giáo dục theo ngành, bậc học. Nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết được ứng dụng trong các nhà trường và các cơ sở giáo dục. Có thể kể đến một số nghiên cứu loại này của tác giả Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Gia Quý, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Văn Lê, Phạm Viết Vượng,.
Trong những năm gần đây, nhiều luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục, trong đó có vấn đề quản lý ĐNGV. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề quản lý ĐNGV theo bậc học và ngành học, vùng miền khác nhau. Có thể kể đến các tác giả Nguyễn Thị Lan với “Những biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc - Hoạ trung ương”, Phan Văn Anh với đề tài “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trong các trường Trung cấp nghề thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước”, Nguyễn Hồng Sơn với đề tài “Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay”,. Với cấp học THPT đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này, trong đó có tác giả Phạm Hồng Dương với “Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường THPT Tân Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang”, Nguyễn Đức Cường với “Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay”, Trần Văn Hướng với “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”.
Đối với ngành GD-ĐT Nam Định nói chung, giáo dục THPT của huyện Hải Hậu nói riêng chưa có một tác giả, một đề tài nào nghiên cứu đầy đủ khoa học về công tác quản lý ĐNGV trong mối quan hệ các trường học trên địa bàn huyện. Chính vì vậy, nghiên cứu về quản lý ĐNGV ở các trường THPT huyện Hải Hậu trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu một cách khoa học và hệ thống. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Giáo viên * Giáo viên: Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên.
* Giáo viên trường trung học: Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh. Trình độ đạt chuẩn của giáo viên trường THPT: có bằng tốt nghiệp ĐHSP hoặc có bằng tốt nghiệp Đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Đội ngũ giáo viên - Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: „„Đội ngũ là một tập hợp một số đông người cùng chức năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng‟‟ [44, tr. - Có tác giả thì quan niệm như sau: “ĐNGV trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên; nếu chỉ đề LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là một ĐNGV và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục” [21, tr.
- Căn cứ vào đó có thể hiểu ĐNGV như sau: ĐNGV là một tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục được tổ chức thành một lực lượng, có chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ là tạo ra sản phẩm giáo dục “Nhân cách – Sức lao động”. Họ là một tập hợp có tổ chức, có sự chỉ huy thống nhất, bị ràng buộc bởi trách nhiệm, quyền hạn và được hưởng các quyền lợi về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của luật pháp, luật giáo dục và điều lệ nhà trường. - Đội ngũ giáo viên THPT là những người làm công tác giảng dạy, giáo dục trong trường THPT, có cùng nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện học sinh THPT giúp các em hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu giáo dục đã xác định cho cấp học. Theo quan điểm hệ thống, tập hợp giáo viên của một trường THPT nhất định được gọi là đội ngũ giáo viên của trường THPT đó.
Đây là một hệ thống mà mỗi thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế xác định. Vì lẽ đó mỗi tác động vào các thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ vừa có ý nghĩa trên toàn thể với toàn bộ hệ thống. Quản lý Khái niệm về quản lý: - Các nhà lý luận quản lý quốc tế như Frederick Winslow Taylor (Mỹ - 1856 - 1915), Henri Fayol (Pháp - 1841- 1925), Max Weber (Đức- 1864 - 1920), Mary Parker Follett (Mỹ - 1868 - 1933) đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. - Quản lý nền sản xuất-xã hội là loại hình quản lý đặc biệt phát sinh từ tính chất xã hội hóa lao động.
Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download8 : add luanvanchat@agmail.com những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vỹ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng”. - Theo những định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
9] - Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích, kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến [27, tr. Như vậy, từ các định nghĩa trên về quản lý ta có thể rút ra nhận xét như sau: Về bản chất của hoạt động quản lý gồm hai bộ phận đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Hai bộ phận này có quan hệ khăng khít với nhau, không tách rời nhau. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay nhóm người có chức năng quản lý, điều hành tổ chức, làm cho tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra.
Khách thể quản lý là những người thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Chủ thể quản lý làm nảy sinh tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra vật chất tinh thần có giá trị sử dụng, đáp ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích chủ thể quản lý. Các chức năng cơ bản của quản lý: Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định. Theo quan điểm quản lý hiện đại có bốn chức năng cơ bản đó là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá.
LUAN VAN CHAT LUONG download9 : add luanvanchat@agmail.com - Chức năng kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Khi tiến hành chức năng kế hoạch, người quản lý cần hoàn thành được hai nhiệm vụ là xác định đúng những mục tiêu cần phát triển giáo dục và quyết định được những biện pháp có tính khả thi (phù hợp với quan điểm, đường lối theo từng giai đoạn phát triển của đất nước). - Chức năng tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra. - Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới mục tiêu với chất lượng cao.
- Chức năng kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động những hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức. Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý. Trong đó, từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có quan hệ biện chứng với nhau.