Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Quy Nhơn. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Quy Nhơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Con người từ khi sinh ra đã cần nhiều kỹ năng để tồn tại và phát triển, chính vì vậy giáo dục kỹ năng sống cho con người đã được hình thành từ rất sớm, từ khi xã hội chưa phát triển cho đến ngày nay. Con người được rèn luyện và hình thành kỹ năng sống, nó được củng cố, trau dồi và định hình trở thành một nét nhân cách của con người. Giáo dục kỹ năng sống đã trở thành vấn đề được xã hội đặc biệt coi trọng trong nền giáo dục. Kỹ năng sống không chỉ đơn thuần là giáo dục giới hạn trong phạm vi hẹp mà đã được khái quát, nghiên cứu và hình thành lý luận trong hệ thống giáo dục của con người.
Nhất là trong thời đại hiện nay, xã hội càng phát triển, khoa học, công nghệ không ngừng tiến bộ nhu cầu học tập của con người ngày càng nhiều. Con người có nhu cầu học để biết, học để làm việc, để tự khẳng định mình và hòa nhập với cộng đồng. Chính vì vậy, việc giáo dục kỹ năng sống cho giới trẻ nhất là giáo dục cho học sinh trong các nhà trường THPT hiện nay là vô cùng cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống nên đây là một trong những nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ giáo dục & Đào tạo phát động trong chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT của Bộ trưởng ký ngày 22/7/2008.[8] Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu cứu KNS nêu trên.
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Trong chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hóa, khoa học 7 và giáo dục của Liên Hợp Quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc) và một số chương trình hành động của một số xã hội trên thế giới đã xây dựng hệ thống kĩ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kĩ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kĩ năng đó. Các chương trình đó đã giới thiệu những kĩ năng cơ bản như: Kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị và kĩ năng ra quyết định Theo tác giả Đặng Quốc Bảo trong phát biểu “ Chấn hung giáo dục trong bối cảnh mới” có đề cập đến nhà sư phạm nổi tiếng của Liên Xô A. Macarenko (1888-1939) “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho các quá trình GD chỉ thực hiện trên lớp học mà đáng ra phải trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta…” Như vậy, các tổ chức ở các nước trên thế giới đã có sự quan tâm nhiều đến các hiệu quả của GDKNS và QLGDKNS cho học sinh.
Tác giả sẽ tiếp thu có chọn lọc các hướng nghiên cứu trên để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài. Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình Giữa thập niên 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ KNS mới xuất hiện có hệ thống ở nhà trường Việt Nam gắn với dự án “GDKNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành các hoạt động GDKNS, đa dạng về hình thức lẫn nội dung, gắn với các vấn đề xã hội như: phòng chống ma tuý, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích,phòng chống tai nạn bom mìn, bảo vệ môi trường.[6] Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã nêu tại hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” do UNESCO tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23 đến 25 tháng 10 năm 2003 đã làm rõ hơn khái niệm về KNS, từ đó khái niệm KNS đã được các nhà giáo dục Việt Nam hiểu một cách đầy đủ hơn về giá trị của KNS cũng như ý nghĩa cần thiết phải GDKNS cho thế hệ trẻ đặc biệt là đối tượng HS nói riêng và toàn xã hội nói chung.[5] Theo phát biểu của tác giả Nguyễn Thị Mai Hà tại công trình “ Đạo đức và 8 giáo dục đạo đức” năm 2009 đã đề cập: Các nghiên cứu ở nước ngoài từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội. [20] Quan điểm giáo dục phát triển toàn diện được trình bày trong rất nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Trong lĩnh vực GD, điều này được khẳng định trong Luật GD năm 2019 đã xác định rõ: “ Mục tiêu của giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước; tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”.[29] Từ năm học 2010-2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo lồng ghép, tích hợp giáo dục KNS qua các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh. Trong Điều lệ trường trung học cơ sở, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo thông tư số 12/2011/TT- BGD&ĐT ngày 28/3/2011, tại khoản 1, khoản 3 Điều 26 xác định: Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2011).[12] Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu quản lí hoạt động giáo dục KNS trong các nhà trường.
Có thể kể ra một số công trình như sau: Ở cấp độ quản lí nhà nước, cơ quan chủ quản là Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có một số văn bản quy định Thông tư “Quy định Quản lí hoạt động GDKNS và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa”, ban hành ngày 28 tháng 02 năm 9 2014, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2014 trong đó chỉ rõ: hoạt động giáo dục giúp cho người học hình thành và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội, qua đó hoàn thiện nhân cách và định hướng phát triển bản thân tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị sống. Thông tư đã quy định nguyên tắc, điều kiện hoạt động, thẩm quyền cấp phép, trong đó nêu cao trách nhiệm quản lí của các cấp, nhất là các cơ sở giáo dục.[13] Có thể nhận thấy ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề GD KNS, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu một số lĩnh vực nội dung và phương thức GD KNS, các đề tài đã phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề GD KNS, một số đề tài đã đề xuất các biện pháp QLGD KNS cho HS. Tuy nhiên hiện nay ở các trường THPT việc GD KNS cho HS mới chỉ được thực hiện ở mức độ tích hợp ở một số môn học mà chưa khai thác hết nội lực của việc GD KNS thông qua các hoạt động tập thể, hoạt động GDNGLL trong nhà trường để thực hiện có hiệu quả nội dung GD KNS cho HS THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới GD. Những khái niệm chính của đề án 1.1 Giáo dục kỹ năng sống 1.1 Kỹ năng sống Theo Nguyễn Công Khanh, trong giáo trình: Phương pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, Hà Nội: Nxb Giáo dục.
Kỹ năng sống là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày. Đó là tập hợp các kỹ năng mà con người tiếp thu qua giáo dục hoặc trải nghiệm trực tiếp được dùng để xử lý các vấn đề và câu hỏi thường gặp trong cuộc sống con người. Kỹ năng sống được xem là chuẩn mực xã hội và mong đợi của cộng đồng. Kỹ năng sống có chức năng đem lại hạnh phúc và hỗ trợ các cá nhân trở thành người tích cực cho cộng đồng.
[25] “Kỹ năng” là khả năng thao tác, thực hiện một hoạt động nào đó. Kỹ năng sống (life skill) là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động.