lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học về QLNN về nước thải của các doanh 6 nghiệp trong các Khu Công Nghiệp. Thực trạng QLNN về nước thải của các doanh nghiệp trong các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh ĐắkLắk. Giải pháp, hoàn thiện QLNN về nước thải của các doanh nghiệp trong các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh ĐắkLắk.
7 CHƢƠNG 1 CỞ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ NƢỚC THẢI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Nƣớc thải khu công nghiệp 1. Khu công nghiệp, Doanh nghiệp khu công nghiệp a. Khái niệm Khu công nghiệp Khu công nghiệp ( KCN) đã hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một định nghĩa được thừa nhận chung về KCN. Tùy điều kiện từng nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưng của KCN. Các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về KCN. Theo thuật ngữ tiếng Anh, KCN được dùng là Idustrial estates, industrial zone, export processing zone hay industrial park.
Đây là những khái niệm đã trở lên khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Các KCN được thành lập ở nhiều nước nhằm thực hiện mục tiêu thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài và thực hiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước, hướng về xuất khẩu. Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), “KCN là một quần thể liên hoàn các xí nghiệp xây dựng trên một vùng có thuận lợi về các yếu tố địa lý, tự nhiên, kết cấu hạ tầng, xã hội… để thu hút đầu tư (chủ yếu là đầu tư nước ngoài) và hoạt động theo một cơ cấu hợp lý các doanh nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp dịch vụ nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất và kinh doanh”.40] Ở Philipine, theo luật về các KKT đặc biệt năm 1995, KCN được định nghĩa như sau: “KCN là một khu đất được chia nhỏ và xây dựng căn cứ vào một quy hoạch toàn diện dưới sự quản lý liên tục thống nhất và với các quy định đối với cơ sở hạ tầng cơ bản và các tiện ích khác, có hay không có các nhà xưởng tiêu chuẩn và các tiện ích công cộng được xây dựng sẵn cho việc sử dụng chung trong KCN”[22]. Ở nước ta, theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định về KCN thì: “ KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập 8 theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ” [9].
Theo Điều 3, Luật số 67/2014/QH13 - Luật Đầu tư của Quốc Hội ban hành ngày 26/11/2014: “ KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” [23]. Từ các khái niệm trên thì chúng ta có thể hiểu rằng , KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ. Cơ sở hạ tầng của KCN được đầu tư đồng bộ như: Hệ thống giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện, nước, hệ thống thu gom và xử lý chất thải đảm bảo có sự kết nối thuận tiện với khu vực. Theo Nghị định 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý KCN, KKT thì KCN là: “ Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục theo các quy định”[10].
Theo tác giả, KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ. KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập. Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái. “Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp”.
Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của khu công 9 nghiệp[8]. Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp[8]. KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập.
Đặc điểm của Khu công nghiệp: - Các khu công nghiệp được hình thành với những điều kiện địa lý, mặt bằng, giao thông… thuận lợi, với những ưu đãi về giá thuê đất, về các chính sách linh hoạt và thủ tục hành chính đơn giản tạo điều kiện để các chủ đầu tư giảm chi phí đầu tư, chi phí sản xuất và chi phí hành chính khác. - Các doanh nghiệp trong KCN thường được hưởng các quy định riêng của Nhà nước và chính quyền địa phương. Các quy định này thể hiện sự quan tâm, ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. - Các khu công nghiệp thường được xây dựng ở những vị trí địa lý thuận lợi, gần các đường giao thông, cảng biển, sân bay, thuận tiện giao lưu với các trung tâm kinh tế lớn.
Các KCN cũng đòi hỏi diện tích khá lớn, địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp xây dựng các công trình công nghiệp và cơ sở hạ tầng thích hợp. Việc xây dựng các KCN phải theo quy hoạch hợp lý với các khu đất dành cho các mục đích khác. - Các khu công nghiệp chịu sự quản lý của Chính phủ về quyết định thành lập, quy hoạch tổng thể, khung điều lệ mẫu, kiểm soát, có trình độ tổ chức cao và phương thức quản lý tiên tiến. Các KCN thường có ban quản lý riêng nhằm nâng cao hiệu lực thi hành các hợp đồng và những quy định bắt buộc, phê duyệt và tiếp nhận những dự án mới, cung cấp các chính sách và xúc tiến đầu tư.
- Các KCN thường có nhu cầu sử dụng lượng lớn nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng, và cũng thải ra lượng chất thải khổng lồ, đòi hỏi phải có hệ 10 thống xử lý chất thải phù hợp, đạt tiêu chuẩn theo các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Doanh nghiệp khu công nghiệp Theo Khoản 5 điều 2, Nghị Đinh 36 Nghị định số 36/1997/NĐ-CP về ban hành quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao: “Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ”[11]. Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, được hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, có quyền được xây kho xưởng, nhà máy trong Khu công nghiệp, sử dụng có trả tiền các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, được chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất, thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp. Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp, định giá cho thuê đất, giá cho thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, định mức phí sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các công trình dịch vụ khác trong Khu công nghiệp, thu phí sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ và tiện ích công cộng trong Khu công nghiệp, xây dựng nhà xưởng, văn phòng, kho bãi trong Khu công nghiệp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất và cho thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong Khu công nghiệp theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về kinh doanh bất động sản.
Theo tác giả, Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp có hoạt động đầu tư trong Khu công nghiệp gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ, có quyền được xây kho xưởng, nhà máy các công trình kết cấu hạ tầng KCN, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất và cho thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong Khu công nghiệp theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp Khu công nghiệp có nghĩa vụ: Tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, thực hiện hoạt động đầu tư theo đúng nội dung văn bản đăng ký đầu tư, nội dung Giấy chứng nhận đầu tư, thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy 11 định của pháp luật, thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Môi trường Khu công nghiệp a. Khái niệm môi trường Khu công nghiệp Theo Mục 1, Điều 3, Luật số: 72/2020/QH14 - Luật bảo vệ môi trường “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”.