Chương 1. Những vấn đề cơ bản về nợ và quản lý nợ BHXH Chương 2. Thực trạng nợ BHXH và quản lý nợ BHXH ở BHXH Việt Nam Chương 3. Giải pháp và kiến nghị về công tác quản lý nợ BHXH ở Việt Nam CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ VÀ QUẢN LÝ NỢ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.
Khái quát về bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm xã hội 1. Sự cần thiết khách quan và vai trò của bảo hiểm xã hội Trong cuộc sống cũng như trong sản xuất kinh doanh, con người thường gặp rất nhiều những rủi ro hoặc sự kiện ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ như ốm đau, thai sản, tuổi già,… và cũng ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. Tất cả những rủi ro này không ai có thể tránh khỏi, và khi gặp phải, nhu cầu đối với cuộc sống của con người không những không mất đi mà còn tăng lên, làm cho cuộc sống của con người càng trở nên khó khăn hơn, còn sản xuất thậm chí bị đình đốn. Khi sản xuất hàng hóa ra đời, xã hội xuất hiện sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và dần dần hình thành hai giới (giới chủ và giới thợ).
Hai giới này ban đầu rất hòa thuận vì cả hai giới đều có những nhu cầu riêng được thỏa mãn. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, vào khoảng đầu thế kỷ 19 đã bắt đầu xuất hiện những mâu thuẫn giữa hai giới về tiền công, tiền lương, thời gian làm việc, cường độ làm việc, đối xử với nhau lúc ốm đau, tai nạn, đặt biệt là đối với những gia đình đông con có hoàn cảnh khó khăn về nơi ăn, ở,…; ngoài ra còn phát sinh một số mâu thuẫn về mặt xã hội như phân biệt chủng tộc, màu da, mâu thuẫn giai tầng xã hội,… Tất cả những mâu thuẫn đó phát sinh cũng là lúc bắt đầu xuất hiện những cuộc đấu tranh đòi quyền lợi. Tuy nhiên, những cuộc đấu tranh này chỉ nổ ra một cách lẻ tẻ, tự phát, mang tính tức thời. Bên cạnh những cuộc đấu tranh như vậy thì giới thợ đã biết cách tập hợp nhau lại, giúp đỡ lẫn nhau trong những lúc khó khăn, hoạn nạn và đã bắt đầu hình thành được những hội tương hỗ.
Những hội tương hỗ này lúc đầu cũng chỉ được thành lập một cách tự phát, nhưng hiệu quả về mặt xã hội là rất lớn. Vì vậy, từ những năm 1850 cho đến cuối thế kỷ 19, hội tương hỗ đã được thành lập phổ biến ở Châu Âu. Mặc dù hội tương hỗ đã đóng vai trò rất tích cực và hiệu quả giúp giới thợ khắc phục được khó khăn, ổn định cuộc sống, nhưng bản thân giới thợ cũng nhận thức được 3 vấn đề: (1) Hội tương hỗ chỉ hỗ trợ được tức thời, không giải quyết được vấn đề một cách triệt để; (2) Tiền bạc và vật phẩm hỗ trợ vẫn là của bản thân giới thợ với nhau; (3) Khi đang trong thời gian nghỉ việc do ốm đau, tai nạn, giới chủ không những không quan tâm mà còn tìm cách sa thải để tuyển mộ người mới. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong thời gian này trở thành một phong trào rộng lớn vì họ nhận thức được cần phải đấu tranh.
Khi phong trào lan rộng khắp Châu Âu đã buộc Chính phủ các nước phải can thiệp bằng cách: Yêu cầu giới chủ phải tăng lương, giảm giờ làm, giảm cường độ lao động và phải có trách nhiệm với NLĐ khi họ bị ốm đau, tai nạn; Yêu cầu giới thợ không được bãi công, biểu tình, đập phá máy móc để đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra liên tục, ổn định và phải làm việc theo đúng nội quy của giới chủ và pháp luật của Nhà nước; Tuy nhiên, giới chủ không đồng ý và khi đó, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đã trở thành một cao trào lan ra toàn bộ Châu Âu và Bắc Mỹ. Lúc này, Chính phủ các nước lại can thiệp bằng cách: Yêu cầu giới chủ trích một khoản tiền từ lợi nhuận của mình để đóng góp vào một quỹ chung, đồng thời yêu cầu giới thợ cũng đóng góp vào quỹ ấy một khoản trích từ tiền lương, tiền công của mình. Nhà nước cũng cam kết sẽ đóng góp vào quỹ này một khoản tiền.Chính phủ gợi ý rằng quỹ này được dùng để trợ cấp cho những NLĐ tham gia đóng góp quỹ khi không may họ bị tai nạn, ốm đau, gia cảnh khó khăn. Đồng thời, Chính phủ cũng cam kết tham gia quản lý quỹ để đảm bảo tính khách quan, công bằng và chính xác.
Gợi ý này đã được cả hai bên chấp nhận ngay và đồng ý thực hiện cam kết. Từ những vấn đề nêu trên, thế giới đã quan niệm việc hình thành và cách thức hình thành nguồn quỹ đó chính là để BHXH cho NLĐ mà trước hết là những NLĐ không may bị ốm đau, tai nạn, gia cảnh khó khăn,… Như vậy, BHXH ra đời là cần thiết khách quan. Đây là loại hình bảo hiểm có phạm vi và đối tượng tham gia rất rộng và không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện BHXH cho NLĐ. Từ khi ra đời cho đến nay BHXH đã luôn và ngày càng khẳng định được vai trò của mình trên nhiều phương diện khác nhau trong thực tế cuộc sống cũng như trong phát triển kinh tế - xã hội.
Vai trò đó cụ thể như sau: - Thứ nhất, đối với NLĐ: BHXH trực tiếp góp phần ổn định thu nhập, từ đó góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi NLĐ gặp phải rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tuổi già,… Bên cạnh đó, BHXH còn là chỗ dựa về mặt tâm lý để NLĐ yên tâm làm việc, gắn bó với đơn vị mà mình công tác, nâng cao năng suất lao động, từ đó góp phần nâng cao thu nhập của họ trong tương lai. Thông qua BHXH cũng góp phần đoàn kết những NLĐ trong nội bộ các cơ quan, doanh nghiệp, khuyến khích những NLĐ chưa tham gia BHXH hăng hái tham gia. - Thứ hai, đối với người SDLĐ: Mặc dù phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoản tiền nhất định để bảo hiểm cho NLĐ mà mình sử dụng, điều đó ít nhiều cũng ảnh hưởng đến thu nhập của người SDLĐ, song về lâu dài thì bản thân người SDLĐ tự nhận thấy điều đó cũng đem lại lợi ích cho chính họ. Bởi vì, có BHXH NLĐ sẽ yên tâm, phấn khởi công tác, sẽ gắn bó với cơ quan, doanh nghiệp hơn, phát huy hết khả năng sáng tạo và tăng năng suất lao động, từ đó tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn cho doanh nghiệp.
Nếu chính sách BHXH được thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế các hiện tượng đình công, bãi công, biểu tình và từ đó làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục và ổn định; người SDLĐ cũng sẽ không phải bỏ ra những khoản tiền lớn khi rủi ro đến với nhiều NLĐ cùng một lúc và ở phạm vi rộng, mà lúc này, hậu quả của rủi ro sẽ được phân tán nhanh cả theo không gian và thời gian cho tất cả các bên tham gia BHXH. Thông qua chính sách BHXH, người SDLĐ còn thể hiện được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với NLĐ và đối với xã hội. Sự thể hiện này là công khai, minh bạch, được Pháp luật thừa nhận. Điều đó càng làm cho NLĐ tin tưởng hơn vào giới chủ và Nhà nước.
- Thứ ba, đối với nền kinh tế: Chính sách BHXH góp phần tạo lập mối quan hệ gắn bó chủ - thợ, từ đó làm cho các mối quan hệ trên thị trường lao động trở nên lành mạnh hơn, những mâu thuẫn vốn có trong quan hệ lao động về cơ bản được giải tỏa. Đây là tiền đề về mặt tâm lý để kích thích tính tự giác, sáng tạo của NLĐ, từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội và làm cho sản xuất ngày càng phát triển. Cũng nhờ có chính sách BHXH mà quỹ BHXH đã được hình thành và tồn tích theo thời gian và thực sự đã trở thành một khâu tài chính trung gian rất quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia. Phần quỹ nhàn rỗi sẽ được đem đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm cho NLĐ.
- Thứ tư, đối với xã hội: Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH thể hiện tính xã hội hóa, tính nhân đạo và nhân văn cao cả của chính sách BHXH. Mặc dù động cơ và mục đích của mỗi bên tham gia có thể khác nhau, song BHXH ra đời có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội, cụ thể: NLĐ tham gia BHXH là nhằm bảo vệ quyền lợi trực tiếp cho chính mình, đồng thời còn góp phần thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng và xã hội; người SDLĐ tham gia BHXH là để quan tâm, chia sẻ rủi ro với NLĐ, nhưng cũng là gián tiếp bảo vệ lợi ích cho chính cơ quan và doanh nghiệp của họ; Nhà nước tham gia BHXH nhằm góp phần bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội, đảm bảo công bằng xã hội, nhưng cũng là trách nhiệm trong quản lý xã hội của Nhà nước. Bản chất của bảo hiểm xã hội Tuy đã có lịch sử phát triển lâu dài, nhưng đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về BHXH và BHXH được nhìn nhận dưới nhiều giác độ khác nhau. Trong giáo trình An sinh xã hội của chủ biên – PGS.TS Nguyễn Văn Định, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, khái niệm về BHXH được nhìn nhận dưới ba góc độ chủ yếu sau: *Từ góc độ Pháp luật: BHXH là một chế định bảo vệ NLĐ sử dụng nguồn đóng góp của mình, đóng góp của người SDLĐ (nếu có) và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho NLĐ được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động hoặc hết tuổi lao động theo quy định của Pháp luật hoặc NLĐ bị chết.
*Dưới góc độ tài chính: BHXH là quá trình san sẻ rủi ro và san sẻ tài chính giữa những người tham gia BHXH theo quy định của Pháp luật. *Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2014: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.