ĐẶT VẤN ĐỀ Nhân lực y tế được coi là một thành phần rất quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế, tác động trực tiếp đến sự hài lòng của người dân. Các lựa chọn của nhân lực y tế về sử dụng nguồn lực sẽ ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống y tế (1). Một trong những mục tiêu chính của Quản lý nguồn nhân lực là tăng hiệu suất của các tổ chức (2). Ngành y tế toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã và đang phải đối mặt với thách thức về khủng hoảng nhân lực y tế (3).
Tại Việt Nam mặc dù Nhà nước đã có nhiều chính sách và tạo ra những thay đổi tích cực trong việc tăng số lượng nguồn nhân lực y tế, nhưng trên thực tế, ngành y vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực, dẫn đến hạn chế chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở nước ta, đó là phân bổ nguồn nhân lực mất cân đối, bất hợp lý theo vùng, miền, lĩnh vực. Nhiều khu vực còn thiếu nhân lực y tế như Vùng đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên có tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân thấp nhất so với cả nước. Lý do của sự thiếu hụt này là do thu nhập thấp, không đủ thu hút cán bộ y tế. Tình trạng thiếu nhân lực y tế nói chung và nhân lực có trình độ là bác sĩ ở tuyến y tế cơ sở, cũng như nhân lực y tế dự phòng vẫn còn là vấn đề đáng lo ngại, trong khi tỷ lệ số trạm y tế có bác sĩ ở Hà Nội là 93,8% thì Lào Cai là 35,4% (4).
Tình trạng biến động nguồn nhân lực y tế tại tuyến huyện, xã là vấn đề Nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa. Số cán bộ nghỉ việc, chuyển đi ở các cơ sở tuyến huyện bằng 50% tổng số nhân lực mới tuyển dụng, ở tuyến xã, số nhân lực nghỉ việc, chuyển đi bằng 30% số mới tuyển (4). Nhiều trung tâm y tế tuyến huyện nhiều năm không tuyển được bác sĩ nào trong khi số lượng cán bộ chuyển đi nơi khác vẫn tiếp diễn. Quản lý và điều hành tốt nguồn nhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế mà còn tăng cường công bằng trong chăm sóc sức khỏe và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực (5).
Cụ thể tại Trung tâm y tế, Trạm y tế quản lý nhân lực y tế hiệu quả sẽ giúp đảm bảo đủ số lượng và chất lượng nhân lực (trình độ và kinh nghiệm), bố trí theo vị trí công tác phù hợp, có kế hoạch bồi dưỡng, phát triển và đánh giá thực hiện công việc công bằng. 2 Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Bát Xát là một đơn vị y tế một chức năng của huyện bát xát được chia tách từ trung tâm y tế huyện (6). Tổng số nhân lực y tế tại Trung tâm y tế huyện Bát Xát và 23 trạm Y tế (TYT) trực thuộc bao gồm 159 cán bộ. Công tác y tế còn nhiều khó khăn, 16/23 trạm y tế đạt tiêu chí Quốc gia về y tế; 5,3 bác sỹ/vạn dân năm 2016.
Tính đến cuối năm 2019 có 23/23 xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế; 6,6 bác sỹ/vạn dân; 65% trạm y tế có bác sỹ làm việc thường xuyên tại trạm; 174/201 thôn bản có nhân viên y tế thôn bản hoạt động (chiếm 87%), hiện tại còn 17 thôn và 10 tổ dân phố không có nhân viên y tế thôn bản. Trong những năm gần đây mô hình tổ chức và quản lý của hệ thống y tế cơ sở từ huyện đến xã có nhiều sự thay đổi, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động công tác y tế tại huyện. Năm 2017, Trung tâm Y tế huyện Bát Xát thực hiện việc sáp nhập bệnh Trung tâm y tế dự phòng và Trung tâm Dân số - KHHGĐ tuyến huyện đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, chỉ đạo điều hành một cách thống nhất. Do có sự sáp nhập nên có một số thay đổi về tổ chức nhân sự.
Mặt khác từ năm 2017 đến nay tuy Trung tâm có kế hoạch tuyển dụng nhưng không tuyển đụng được cá nhân nào, đặc biệt là đối tượng bác sĩ. Vẫn gặp những khó khăn về việc duy trì và thu hút nguồn nhân lực đặc biệt là nhân lực có trình độ chuyên môn cao và là bác sĩ. Điều này có thể do việc chế tài thu hút nguồn nhân lực, chế độ lương thưởng, môi trường làm việc chưa đáp ứng được nhu cầu của các NVYT. Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: Thực trạng quản lý nhân lực của tuyến y tế cơ sở giai đoạn 2016-2019 như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc quản lý nhân lực? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng quản lý nhân lực của Trung tâm Y tế huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2019 và một số yếu tố ảnh hưởng".
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để TTYT huyện Bát Xát xây dựng chiến lược thu hút và phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2020 - 2025. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng quản lý nhân lực tại Trung tâm Y tế huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2019. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhân lực tại Trung tâm Y tế huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2019.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về nhân lực và quản lý nhân lực Khái niệm Nhân lực: Nhân lực được hiểu như nguồn lực con người. Nói đến nhân lực là nói đến con người đã có nhiều quan điểm nói tới nhân lực, một phản ánh chung nhất: Nhân lực là toàn bộ khả năng thể lực trí lực của con người tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động (7). Khái niệm nhân lực y tế: Theo WHO (2009), nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của người dân.
Theo định nghĩa này thì người mẹ chăm sóc con ốm và những người tình nguyện trong lĩnh vực y tế cũng bao gồm trong nguồn nhân lực y tế, họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế(8). Tuy nhiên dữ liệu có thể về số nhân viên y tế chủ yếu giới hạn trong những người tham gia vào các hoạt động được trả lương. Trong các đơn vị y tế một số người mà công việc của họ không trực tiếp nâng cao sức khỏe cho người bệnh như người quản lý, nhân viên kế toán tài chính, lái xe, bảo vệ, nhân viên vệ sinh.mặt khác những bác sĩ làm việc trong những công ty, tổ chức có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ thuộc tổ chức đó nhưng không hoạt động nâng cao sức khỏe. Chính vì lý do đó mà nguồn nhân lực y tế có thể được xem là những người hưởng lương trong cơ quan/tổ chức là những người trực tiếp hoặc gián tiếp mà công việc của họ có mục đích là nâng cao sức khoẻ.
Cụ thể hơn, WHO định nghĩa nhân viên y tế là những người mà hoạt động của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe (8). Trong góc độ của nghiên cứu này chúng tôi đề cập tới nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác: nhân viên kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý, làm việc tại một tổ chức có mục đích nâng cao sức khoẻ nhân dân. Khái niệm về quản lý nhân lực: Quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ 5 chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân (9). Có nhiều cách hiểu về quản lý nhân lực (QLNL) (còn gọi là Quản trị nhân lực, Quản trị nhân sự, Quản lý nhân sự).
Khái niệm QLNL có thể được trình bày ở nhiều góc độ khác nhau. Với chức năng cơ bản của quản trị tổ chức thì QLNL bao gồm việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Đi sâu vào công tác QLNL người ta còn có thể hiểu QLNL là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức(3). Theo quan niệm trước đây, QLNL trước tiên chỉ đạo tập trung vào việc tuyển dụng, xác định mức lương và cơ chế tăng lương, quản lý bảo hiểm xã hội, đánh giá công việc về mặt hành chính có kèm theo động lực khuyến khích, sa thải khi cần thiết, cũng như việc đào tạo và các nhiệm vụ quản lý hành chính khác.
Trách nhiệm của nhà quản lý là thực hiện các nhiệm vụ đó hiệu quả hợp pháp và bảo đảm sự công bằng và nhất quán. QLNL hiện nay được hiểu rộng hơn, bao gồm cả nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực. Đặc thù nhân lực ngành Y tế Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị đã nêu rõ nguyên tắc chỉ đạo nguồn nhân lực y tế, cụ thể là “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt.” 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Lương y như từ mẫu”. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng phát biểu về đặc trưng của nghề y, “Ít có nghề nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế.
Đó là một nghề đặc biệt đòi hỏi hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, sự từng trải và kinh nghiệm, một nghề mà mọi công việc dù là nhỏ nhất đều liên quan đến tính mạng con người và hạnh phúc gia đình. Nghề y là một nghề cao quý, được xã hội tôn trọng trước hết bởi vì có nhiệm vụ chữa bệnh cứu người, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe của nhân dân. Đó là nghề đòi hỏi phải có lòng nhân ái, dám chịu đựng vất vả, hy sinh để cứu người, tôn trọng nhân phẩm và quyền lợi bệnh nhân, thực hiện các quy tắc ứng xử 6 có trách nhiệm và không phân biệt đối xử.