Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm liên quan. Khái niệm thanh niên và thanh niên nông thôn 1. Khái niệm thanh niên Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn thúc đẩy sự phát triển xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của đất nước.
Khái niệm Thanh niên được sử dụng thường xuyên rộng rãi hàng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn. Theo Luật Thanh niên năm 2005 quy định: Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi. Thanh niên là khái niệm dùng để chi một nhóm nhân khẩu - xã hội với một độ tuổi xác định, với những tâm sinh lý đặc thù và có một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thanh niên là lứa tuổi đã trưởng thành, có đầy đủ tố chất của người lớn, là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực, do đó thanh niên có đầy đủ những điều kiện cần thiết để tham gia hoạt động học lập, lao động, hoạt động chính trị - xã hội đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cống hiến thể lực và trí lực cho công cuộc đổi mới đất nước [42].
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thanh niên: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc: Dân tộc bị nô lệ thì Thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng, Thanh niên mới được tự do. Vì vậy Thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc”.Gắn Thanh niên với vận mệnh của dân tộc, Hồ Chủ Tịch, trong nhiều bài nói và bài viết của mình đã luận giải một cách giản dị, thuyết phục rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các Thanh niên.
Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải 8 rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cho cái tương lai đó”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII về công tác Thanh niên trong thời kỳ mới đã khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ ngía hay không, phần lớn tùy thuộc và lực lượng Thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác Thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”[3]. Ngoài ra, Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách.
Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên. Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm. Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực.
Với các triết gia, văn nghệ sĩ, thanh niên lại được định nghĩa bằng cách so sánh hình tượng: “thanh niên là mùa xuân của xã hội” là “bình minh của cuộc đời”. Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v. mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau. Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16.
Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước 9 cho đó là tuổi 40. Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên. Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên (15 đến 28 tuổi).
Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà chúng ta cho thanh niên là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30. Tuy nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên. Theo điều lệ Đoàn thì Đoàn là một tổ chức chính trị xã hội của thanh niên, bao gồm những thanh niên ưu tú trong độ tuổi 15 đến 30 tuổi. Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp thanh niên và các hoạt động khác của Đoàn và phong trào thanh niên đến 35 tuổi.
Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên có thể khái quát: “Thanh niên được hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 15, 16 tuổi đến trên dưới 30 tuổi, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội”. Khái niệm thanh niên nông thôn Gồm những thanh niên sinh ra, lớn lên và sinh sống chủ yếu ở nông thôn, trong độ tuổi lao động từ 16 - 30, có khả năng làm việc, đang làm việc hoặc chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Lực lượng lao động thanh niên không bao gồm những học sinh, sinh viên, những người trong độ tuổi 16- 30 đang đi học không có mong muốn, nhu cầu tìm kiếm việc làm, những thanh niên làm nội trợ trong gia đình và những thanh niên không có khả năng làm việc. Thanh niên nông thôn có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn so với thanh niên thành thị.
Tỷ lệ thanh niên nông thôn đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp. 10 Lao động nông thôn nói chung mà đặc biệt là thanh niên nói riêng chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho thanh niên nông thôn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn. Thanh niên nông thôn lao động mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông.
Do vậy, việc sử dụng lực lượng này trong lao động ở nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Thanh niên nông thôn có khả năng tiếp cận và tự tìm việc làm cho mình kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường lao động, khả năng hạch toán hạn chế. Thanh niên nông thôn có những đặc điểm sau: thanh niên nông thôn chiếm tỷ lệ cao trong thanh niên cả nước, là nguồn nhân lực phát triển và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Là lực lượng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, tích cực tham gia và phát huy tốt ý thức chính trị, ý chí tự lực tự cường, khát vọng vươn lên thoát nghèo và làm giàu.
Việc làm và thu nhập của thanh niên nông thôn vẫn là vấn đề bức xúc. Tình trạng không đủ việc làm, việc làm không ổn định, thu nhập thấp đã tác động rất lớn đến đời sống của thanh niên nông thôn, ảnh hưởng đến công tác đoàn kết tập hợp thanh niên nông thôn. Thanh niên nông thôn đang đứng trước những khó khăn và thách thức như: trình độ học vấn, tay nghề, thiếu vốn, thông tin, khả năng tìm việc làm. Thanh niên nông thôn là nguồn nhân lực quan trọng trong quá trình phát triển KT -XH.
Phần lớn thanh niên nông thôn hiện nay trình độ học vấn còn thấp, thiếu việc làm, ít có cơ hội được đào tạo nghề nghiệp, đặc biệt là trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp thấp. Thực tế này đặt ra nhiệm vụ quan trọng của tổ chức Đoàn và cả hệ thống chính trị trong việc giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn. 11 Như vậy có thể hiểu, thanh niên nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn 1. Khái niệm việc làm và tạo việc làm 1.
Khái niệm việc làm Theo điều 9, Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm, Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận. Trên thực tế, việc làm được thừa nhận dưới 3 hình thức: Làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật, cho công việc đó. Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.