Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn; Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Chương 3: Giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. 4 Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Lý luận cơ bản về việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn 1.1 Khái niệm, phân loại và vai trò việc làm 1.1 Khái niệm việc làm Về mặt lý luận, bản chất của việc làm được tác giả Phạm Đức Chính đã hệ thống và làm rõ các quan điểm như sau: Việc làm là phạm trù chỉ trạng thái kết hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng lao động đó.
Như vậy, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: (i) sức lao động, (ii) những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động; và (iii) môi trường kết hợp chúng. Nhà khoa học nổi tiếng trong kinh tế lao động người Nga, Kotlia A, đã đưa ra khái niệm việc làm như phạm trù kinh tế nói chung tồn tại ở mọi hình thái xã hội. Đồng thời, việc làm là phạm trù tái sản xuất xã hội, mà không thể đồng nhất với lao động và sử dụng sức lao động. Nó định rõ đặc tính dân số hoạt động kinh tế so với những yếu tố sản xuất vật chất thể hiện quan hệ giữa con người về việc tham gia của họ vào trong sản xuất xã hội.
Các nhà khoa học kinh tế Anh thì lại cho rằng “việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế”[6]. Theo quan điểm này thì tất cả những việc làm tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt có được pháp luật thừa nhận hay ngăn cấm đều được gọi là việc làm. 5 Các nhà kinh tế Sônhin và Grincốp của Liên xô lại cho rằng, “Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hoá của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của các nông trang viên”[6]. Theo khái niệm này thì những người đang đi học, đang tham gia hoạt động trong các lực lượng vũ trang, những người nội trợ đều coi là người có việc làm.
Ngày nay, ở Liên Bang Nga khái niệm này được quy định rõ trong Bộ Luật Việc làm của dân cư Liên bang Nga như sau: “Việc làm là hoạt động của công dân nhằm thoả mãn những nhu cầu xã hội và của cá nhân, đem đến cho họ thu nhập và không bị pháp luật Liên bang ngăn cấm”[9]. Theo Bộ luật Lao động Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động. Vì vậy, việc làm chỉ được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hiện vật).
Theo quan điểm của Mác: Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,… để sử dụng sức lao động đó.[14] Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, quan điểm về việc làm được hiểu là hoạt động lao động không bị pháp luật ngăn cấm tạo thu nhập hoặc tạo ra điều kiện cho các thành viên trong hộ gia đình có thêm thu nhập. Điều này cũng phù hợp với các nhìn nhận và phân tích của Nhà nước ta, được quy định trong Bộ luật Lao động. Khái niệm việc làm của Bộ luật Lao động Việt Nam được cụ thể hoá, có thể hiểu dưới ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân.
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.[23] 6 Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ. Quan niệm đúng về việc làm là cơ sở khoa học cho việc đào tạo nghề và tạo việc làm. Trong công tác thống kê, điều tra khảo sát về lao động việc làm ở Việt Nam, các tiêu thức xác định việc làm có cụ thể hơn, việc làm của các thành viên hộ gia đình được định nghĩa là một trong ba loại được pháp luật của Việt Nam công nhận bao gồm[15]: Loại 1 - Làm công: Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó. Người làm loại công việc này mang sức lao động (chân tay hoặc trí óc) của mình để đổi lấy tiền công, tiền lương, không tự quyết định được những vấn đề liên quan đến công việc mình làm như mức lương, số giờ làm việc, thời gian nghỉ phép… Loại 2 - Tự làm: Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chính thành viên đó sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chính thành viên đó làm chủ hay quản lý toàn bộ hoặc một phần; thành viên đó chi toàn bộ chi phí và thu toàn bộ lợi nhuận trong loại công việc này.
Loại 3 - Tự làm: Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công tiền lương cho công việc đó. Các công việc gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý. Qua nghiên cứu các khái niệm về việc làm nêu trên, chúng ta có thể nêu khái niệm về việc làm như sau: Việc làm là hoạt động lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội và bản thân, không bị pháp luật ngăn cấm tạo thu nhập hoặc tạo ra điều kiện cho các thành viên trong hộ gia đình có thêm thu nhập. Quna niệm trên về việc làm hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, người lao 7 động có thể làm bất cứ việc gì, ở bất cứ đâu, miễn là không vi phạm pháp luật để mang lại thu nhập và thu nhập cao hơn cho bản thân. Quan niệm trên đã mở ra một hướng đi mới cho vấn đề giải quyết việc làm, mở ra một thị trường việc làm phong phú và đa dạng, thu hút nhiều lao động, thực hiện mục tiêu giải phóng triệt để sức lao động và tiềm năng toàn xã hội[11].2 Phân loại việc làm Theo khái niệm việc làm của Bộ Luật lao động của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2012, việc làm thể hiện dưới các dạng[23]: + Công việc mà người lao động nhận được tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc hiện vật. + Công việc mà người lao động thu được lợi nhuận cho bản thân. + Công việc mà người lao động làm cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao.
Theo mức độ sử dụng lao động, việc làm chia ra: - Việc làm đầy đủ: Nghĩa là mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu lao động đều có việc làm nếu xét trên phương diện sử dụng hết thời gian lao động. - Việc làm hợp lý: Là việc làm được tạo ra trong trường hợp sựu phù hợp của mối quan hệ này cho phép sử dụng triệt để tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động. Việc làm cũng có thể chia ra người có việc làm, người không có việc làm (thất nghiệp), người có việc làm tạm thời, việc làm ổn định. Thiếu việc làm hay gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình là những người làm việc ít hơn mức mà họ mong muốn.
Thiếu việc làm được biểu dưới hai dạng: hoặc là người lao động không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, hoặc là những việc làm có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống, do đó họ muốn làm thêm để có thu nhập. Thất nghiệp được hiểu là sự mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất. 8 Người có việc làm gồm những người làm việc trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra kể lao động làm nghề giúp việc gia đình được trả công, hoặc tạm thời nghỉ việc do ốm đau, tai nạn, nghỉ lễ, nghỉ phép hoặc tạm thời nghỉ việc do thời tiết xấu. Người thất nghiệp gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm và có nhu cầu được làm việc.
Người thiếu việc làm gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần, trong tháng hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc là những người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ theo quy định trong tuần, trong tháng, năm nhưng có thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có thu nhập.3 Vai trò của việc làm Việc làm có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội. Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân.