Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG ÂM NHẠC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Tổng quan nghiên cứu Để có cái nhìn tổng quan về đối tượng nghiên cứu, có sự đánh giá khái quát về các tư liệu liên quan đến luận án từ đó làm rõ những vấn đề sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển, phần tổng quan nghiên cứu bao gồm các tài liệu được trình bày, phân loại theo khu vực địa lý và theo lĩnh vực như sau: 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Thị trường âm nhạc được cấu thành bởi các yếu tố: cung, cầu, sản phẩm/dịch vụ, giá cả…Và một trong những mục tiêu quan trọng của quản lý thị trường âm nhạc là phát triển khán giả - yếu tố “cầu”. Cuốn sách Who is my market? A guide to researching audience and visitors in the arts - Khách hàng là ai? Hướng dẫn nghiên cứu công chúng nghệ thuật của Helen Close và Robert Dovovan, xuất bản năm 1998 là một trong những công trình đầu tiên về nghiên cứu khán giả tại các tổ chức văn hóa nghệ thuật.
Cuốn sách cung cấp cho người đọc một cái nhìn bao quát vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn về phát triển khán giả. Luận án có thể tham khảo về quy trình và phương pháp nghiên cứu khán giả được đề cập trong nội dung của cuốn sách để thực hiện những đánh giá về công chúng âm nhạc – một chủ thể quan trọng tham gia thị trường âm nhạc. Cũng đề cập tới yếu tố “cầu” của thị trường văn hóa nghệ thuật là công trình The Public Life of the Arts in America - Đời sống nghệ thuật công cộng ở Mỹ của nhóm tác giả Harry Hillman, Joni Maya Cherbo và Margaret Jane Wyszomirski, được xuất bản năm 2000 bởi Nxb Rutgers University Press, New York. Nội dung cuốn sách gồm: Phần I - Exploring a changing landscape, Phần II - The public and the arts.
Công trình cung cấp nhiều thông tin khoa học có giá trị như: 96% người dân Mỹ tham gia hoạt động nghệ thuật với tư cách là khán giả, là những người có sở thích, hoặc thông qua truyền hình, ghi âm, video, Internet. Nhóm tác giả công trình cũng cho rằng chính sách công của chính phủ có tác động đến nền nghệ thuật và văn hóa Mỹ. Và theo họ, Chính phủ Mỹ nên tiếp tục hỗ trợ nghệ thuật để lĩnh vực này không ngừng phát triển. Công trình đã khẳng định: một ngành công nghiệp liên quan đến hai yếu tố cơ bản là bên cung (sản xuất) và bên cầu (tiêu thụ) và ngành công nghiệp văn hóa ra đời do nhu cầu văn hóa, tinh thần của xã hội.
Hoạt động quản lý tại các nhà hát – bên cung của thị trường văn hóa nghệ thuật cũng được một số tác giả quan tâm, nghiên cứu. Tess Collins - nhà văn, nhà quản lý sân khấu người Mỹ, năm 2003 cho ra đời ấn phẩm How Theater Managers Manage - Những nhà quản lý, họ quản lý nhà hát như thế nào. Công trình này là tập hợp câu chuyện của những nhà quản lý sân khấu dày dạn kinh nghiệm. Thông qua những câu chuyện này, vấn đề quản lý nghệ thuật biểu diễn dần hiện ra rõ nét hơn.
Theo đó, việc thiết kế là một bước đệm quan 13 trọng cho công tác quản lý nhà hát. Cuốn sách bao gồm một loạt các chủ đề: chi phí, ngân sách của nhà hát; thị trường, vấn đề giá vé, hợp đồng. Hầu hết các kinh nghiệm được chia sẻ trong cuốn sách này liên quan đến hoạt động của sân khấu thương mại và rất nhiều các ý tưởng đưa ra cũng có thể được áp dụng cho các nhà hát phi lợi nhuận. Ưu điểm nổi bật của công trình này là những tình huống thực tiễn được sắp xếp thành các nhóm vấn đề xoay quanh chủ đề quản trị nhà hát.
Nó có thể là những ví dụ hữu ích cho các đơn vị tổ chức biểu diễn ở Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Duncan Webb là nhà tư vấn quản lý sân khấu kỳ cựu, người sáng lập và chủ tịch của Webb Management Services, một công ty tư vấn quản lý phục vụ ngành văn hóa nghệ thuật đồng thời là giáo sư chương trình sau đại học về Quản lý Nghệ thuật biểu diễn của Đại học New York. Với kinh nghiệm hoạch định kế hoạch kinh doanh cho Florida Grand Opera, Trung tâm biểu diễn nghệ thuật Omaha, Học viện Âm nhạc Brooklyn. Duncan Webb đã nghiên cứu và cho ra đời tác phẩm Running Theaters: Best Practices for Leaders and Managers - Vận hành các nhà hát: Thực tiễn tốt nhất cho các nhà lãnh đạo và quản lý (2005).
Đây là công trình khảo sát với quy mô hơn 100 cán bộ quản lý nhà hát và các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan đến nghệ thuật biểu diễn. Các nhà quản lý được khảo sát đã đưa ra quan điểm về quản lý và phát triển nghệ thuật biểu diễn trong xã hội đương đại cùng với những ví dụ thực tế để minh chứng cho chiến lược kinh doanh nhà hát nơi họ làm việc. Bên cạnh đó, nội dung cuốn sách còn đề cập đến các yếu tố như vấn đề bảo trì nhà hát, công nghệ được sử dụng trong nhà hát, nhân viên và hội đồng quản trị, hoạt động giáo dục nghệ thuật. Trong sự phức tạp của thị trường âm nhạc, cách thức quản lý nghệ sĩ là một vấn đề được các nhà quản lý và hoạt động kinh doanh âm nhạc chú trọng.
Cuốn sách Artist Management for the Music Business – Quản lý nghệ sĩ trong ngành kinh doanh âm nhạc (2007) của tác giả Paul Allen cung cấp một cái nhìn toàn diện về công việc quản lý nghệ sĩ. Cụ thể, ở các chương 8, 9, 10 bàn về cách thức tạo thu nhập cho người nghệ sĩ từ hoạt động sáng tác, thu âm và biểu diễn; giới thiệu về cách tiến hành hoạt động kinh doanh (chương 11); lập kế hoạch phát triển sự nghiệp (chương 12). Cuốn sách với dung lượng 269 trang được chia thành 13 chương bao gồm các cuộc phỏng vấn, nghiên cứu trường hợp với các ví dụ về những vấn đề quản lý nghệ sĩ trong thực tiễn. Cuốn sách giúp người đọc tiếp cận các công cụ huấn luyện, lãnh đạo, sắp xếp thời gian, quản lý tài chính, tiếp thị để chuẩn bị và làm quen với công việc quản lý nghệ sĩ.
Chính sách và pháp luật là vấn đề cốt lõi của quản lý văn hóa, nghệ thuật nói chung và quản lý thị trường âm nhạc nói riêng. The Economics of Cultural Policy - Chính sách kinh tế văn hóa, Cambridge University Press năm 2010 của David Throsby là cuốn sách đề cập đến chính sách văn hóa đặt trong mối quan hệ với kinh tế. Công trình này không chỉ có giá trị khoa học mà còn chứa đựng những kinh nghiệm thực tiễn phong phú được minh họa qua những ví dụ điển hình khắp nơi trên thế giới. Ngoài phần giới thiệu và kết 14 luận, công trình gồm 13 chương với những nội dung cơ bản như vấn đề ứng dụng các lý thuyết kinh tế vào quá trình phân tích và hoạch định chính sách cho lĩnh vực công nghiệp văn hóa, du lịch, di sản văn hóa, nghệ thuật biểu diễn.; sự thay đổi trong chính sách của các chính phủ đối với văn hóa từ truyền thống đến hiện đại: từ chỗ bao cấp, hỗ trợ cho văn hóa đến thiết lập cơ chế tự chủ cho các sản phẩm văn hóa tồn tại theo cơ chế thị trường.
Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh sự hiểu biết về bản chất các quy luật kinh tế và giá trị văn hóa là điều cần thiết để đảm bảo việc hoạch định các chính sách văn hóa phù hợp. Công trình này giúp tác giả luận án tiếp cận những quan điểm, kinh nghiệm quốc tế để tham khảo trong quá trình tìm hiểu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý thị trường âm nhạc ở Tp. Hồ Chí Minh. Tiến sĩ Derrick Chong, giảng viên cao cấp chuyên ngành Marketing và Quản lý nghệ thuật của trường Royal Holloway University of London viết tác phẩm Arts Management (second edition) - Quản lý nghệ thuật (2010).
Cuốn sách với 241 trang chia thành 4 phần: Phần Giới thiệu; Phần I – Các đối tác của thể chế; Phần II – Mối quan hệ với các bên liên quan; Phần III – Sự giàu có và nền kinh tế. Ở phần “Giới thiệu”, trên cơ sở xem xét các thuật ngữ cấu thành và liên quan như nghệ thuật, quản lý, công nghiệp văn hóa, tác giả đã làm nổi bật các lập trường khác nhau thể hiện qua khái niệm về quản lý nghệ thuật của Dan Martin (1998), François Colbert (2003), Megan Matthews (2006), Volker Kirchberg và Tasos Zembylas (2009) được trích dẫn ở trang 5 – 7. Bên cạnh đó, tác giả còn nêu lên những thách thức mà các tổ chức văn hóa nghệ thuật phải đối mặt đó là 03 cam kết: về tính thẩm mỹ và tính toàn vẹn; khả năng tiếp cận và phát triển khán giả; tính hiệu quả và minh bạch về chi phí. Phần I, chương 2, tác giả áp dụng quan điểm xuyên quốc gia để xem xét vai trò của trợ cấp công trực tiếp và gián tiếp đối với lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
Phần II, chương 5 bàn về tiêu dùng nghệ thuật và công chúng nghệ thuật. Tác giả nghiên cứu từ góc độ kinh tế học văn hóa và xã hội học nghệ thuật, đặc biệt tham khảo quan điểm của Bourdieu để đưa ra những đánh giá về sự hình thành thị hiếu nghệ thuật của công chúng. Performing Arts Management: A Handbook of Professional Practices – Quản lý nghệ thuật biểu diễn: Sổ tay thực hành nghề nghiệp là công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Tobie S. Stein và Jessica Rae Bathurst.
Công trình hơn 500 trang chia thành 12 chương là tập hợp kiến thức chuyên môn của hơn 150 chuyên gia lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn thương mại và phi lợi nhuận. Cuốn sách cung cấp những minh chứng thực tế về việc điều hành một tổ chức biểu diễn nghệ thuật từ vấn đề quản lý tài chính, phát triển hoạt động gây quỹ, quan hệ với người lao động… và hướng dẫn những nhà quản lý nhà hát, nhóm nhạc, vũ đoàn, dàn nhạc…cách thực hiện các phương pháp quản lý hiệu quả nhất. Có thể nói, những kiến thức, kinh nghiệm về quản trị tổ chức nghệ thuật và quản lý hoạt động nghệ thuật trong những công trình kể trên có ý nghĩa cả về thực tiễn và lý 15 luận đối với quá trình nghiên cứu thực hiện luận án nhất là trong bối cảnh nguồn dữ liệu về lĩnh vực này ở Việt Nam chưa phong phú. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 1.