CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 1. Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất 1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất * Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất Đất đai, theo tác giả Nguyễn Đình Bồng, “đó là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, nước mặt (hồ, sông), nước ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả do hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” [4; tr. Vai trò của đất đai luôn được khẳng định, nếu lao động là cha thì đất đai là mẹ sinh sản ra mọi của cải vật chất trên thế giới này (Petty, năm 1962).
Song, để phát huy vai trò của đất đai cho sự phát triển phải dựa vào sự đánh giá có hệ thống về tiềm năng của quốc gia/ vùng miền, tính thay đổi trong sử dụng (SDĐ)đất và những điều kiện kinh tế – xã hộinhất định; nói cách khác, tất yếu là phải quy hoạchSDĐ để thực hiện các sự lựa chọn cho việcSDĐ tốt nhất phù hợp với yêu cầu thiết yếu của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai. Quy hoạch SDĐ là một hệ thống công cụ của Nhà nước để tổ chức SDĐ hợp lý, hiệu quả thông qua việc bố trí, phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng và định hướng tổ chức SDĐ trong các đơn vị hành chính lãnh thổ, các ngành, tổ chức đơn vị và người SDĐ trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh thái, bền vững trong từng thời kỳ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. 9 n Tại Khoản 2, Điều 1 Luật đất đai năm 2013 xác định: “Quy hoạch SDĐ là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định” [11]. Hệ thống quy hoạch SDĐ được hợp thành từ quy hoạch quốcSDĐ gia cùng với quy hoạch SDĐ các vùng và địa phươngđể điều chỉnh các quá trình kinh tế xã hội.
Quy hoạch SDĐquốc gia là căn cứ định hướng xác lập quy hoạch SDĐ cấp tỉnhD.ựa trên cơ sở quy hoạch SDĐ cấp tỉnhđểxác lập quy hoạch SDĐ cấp huyện. * Vai trò của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch SDĐ thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức SDĐ (tư liệu sản xuất hộicủakếtxã hợp với bảo vệ môi trường đất). Thông qua hai chức năng căn bản này, vai trò củauyq hoạch SDĐ có ý nghĩa to lớn trong công tác quản lý và SDĐ. Quy hoạch SDĐ trước hết là nhằm tạo cơ sở quản lý thống nhất của nhà nước đối với đất Bằngđai.
quy hoạch SDĐ, nhà nước thực hiện được quyền pháp lý định đoạt về đất đai, nắm quỹ đất về từng loại đất và đảm b cơ sở cho việc chuyển mục đích SDĐ, giao, thuêđất đất, tạo sự minh bạch, công bằng và dân chủ khi triển khai thực hiện các dự án, chủ động phân bổ quỹ đất hợp lý để phát triển các ngành/ lĩnh vực, nhất là lĩnh vực phát triê cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịchụ, đôv thị. Các quy định về quy hoạch SDĐ là một bộ phận quan trọng của ngành luật đất đai, là công cụ quản lý nhà nước mang tính pháp lý quan trọng để quản lý và SDĐ có hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái. Nên đối với Nhà nước, quy hoạch SDĐ phải đảm bảo việc SDĐ hợp lý, tiết kiệm, đạt các mục 10 n đích nhất định và phù hợp với các quy định của Nhà nước. Theo đó, quy hoạch SDĐ giúp cho Nhà nước theo dõi, giám sát được quá trình SDĐ.
Quy hoạch SDĐ nhằm thúc đẩy quy trình lập bản đồ SDĐ trên phạm vi toàn quốcNó. là công cụ cốt lõi quan trọng để đảm bảophân bổ quỹ đất cho các ngành, lĩnh vực thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của cả nước và các địa phương để đạt được các mục tiêu kinh –tếxã hội đặt raĐồng. thời, thông qua quy hoạch SDĐ để định hướng cho quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông, các công trình quan trọng phục vụ cho việc phát triển kinh tế và lợi ích của cộng đồng. Quy hoạch SDĐ là căn cứ để xác định với mức giá phù hợp đối với từng loại đất một cách chính xác kịp thời,làcơđồng thời sở định hướng cho các nhà đầu tư tiếp cận vốn đất đai, đóng góp đắc lực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng và các địa phương.
Quy hoạch SDĐ xác lập ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, tạo cho người SDĐ đúng với quy hoạchvàkhông làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người SDĐ xung quanh (Bằng quy hoạch SDĐ để ràng buộc các đối tượng SDĐ chỉ được phép sử dụng đúng mục đí và phạm vi ranh giới của mình).Nó làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hoá- xã hội. Quy hoạch SDĐ là cơ sở lên kế hoạch SDĐ đểcân đối việc sử dụng quỹ đất trong cả nướcphù hợpđối với từng ngành, từng vùng và địa phương để phục vụ tốt nhất quá trình phát triển kinh–xãtếhội theo hướng bền vững. Đồng thời, nhờ đógiúp cho quản lý nhà nước trong quá trình bố trí sắp xếp sử dụng các loại đất một cách khoa học, tận dụng tốt tiềm năng SDĐ (tránh dụng quá mức dẫn đến cạn gópkiệt)phần khắc phục các mâu thuẫn, giảm thiểu sự chồng chéo gây lãng phí đấttrong quy hoạch sử dụng các loại đất của 11 n các ngành cũng như ngăn chặn hiện tượng tiêu cực về đất, tạođai điều kiện phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi .trường Quy hoạch SDĐ không chỉ để đảm bảo cho việc sử dụng đất tiết kiệm và hiệu quả, mà còn để phù hợp với các điều kiện về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và từng ngành sản xuất. Quy hoạch SDĐ cùng với việc thống kê từng loại đất là căn cứ để đảm bảo Nhà nước tổ chức thực hiện việc phân phối v phân phối lại đất đai một cách hiệu quả theo các mục đích sử dụng khác nhau đối với từng loại đất trong quá trình phát triển kinh–xãtếhộiChẳng.
hạn, vai trò của quy hoạch SDĐ đối với thiết kế đô thị được thể hiện ở chỗ: quy hoạch SDĐ là cơ sở để nhà nước xác định tầm chiến lược về vị trí, quy mô và cơ cấu sử dụng toàn bộ quỹ đất như: việc bố cục không gian trong vùng quy hoạch đô thị (bố cục, quy mô SDĐ, các chỉ tiêu chiếm đất xây dựng, đất hành lang xanh, giao thông đô thị, công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội, nhà ở…). Trước tình hình về sự áp lực quá tải về mật độ dân số, tắc nghẽn giao thông, hủy hoại môi trường và nhiều vấn đề kinh-xãtếhội phức tạp khác,uyq hoạch SDĐ là một trong giải pháp cốt lõi đểtạo điều kiện tối ưu cho việc thiết kế phát triển đô thị bền vững. Quy hoạch SDĐ là công cụ quản lý nhà nước chặt chẽ và định hướng quá trình SDĐ tiết kiệm và đúng mục đích, bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường.Quy hoạch SDĐ đảm bảo độ che phủ thực vật của hệ sinh thái bền vững, góp phần bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học. * Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất: Quy hoạch SDĐ do nhà nước lập và phê duyệt trên cơ sở khoa học, thể hiện sự tính toán kỹ lưỡng, phân bổ đất đai cụ thể về số lượng và chất lượng, vị trí, không gian.
cho các mục tiêu kinh tế - xã hội. Quy hoạch SDĐ là cơ sở khoa học của cả quá trình quản lý và SDĐ. 12 n Quy hoạch SDĐ được lập theo những nguyên tắc cơ bản đã được quy định của Luật Đất đai hiện hành, nên nó có đặc điểm là phải đảm bảo phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; quy hoạch SDĐ của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch SDĐ của cấp trên; quy hoạch, kế hoạch SDĐ của cấp trên phải thể hiện nhu cầu SDĐ của cấp dưới. Quy hoạch SDĐ là nhiệm vụ quản lý của nhà nước mang tính chiến lược dài hạn (thường là từ 10 năm trở lên), nó là nền tảng để lập kế hoạch SDĐ một cách phù hợp với thực trạngtừngcủađịa phương.
Khái niệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất Quản lý nhà nước về đất đai là các hoạt động quản lý thuộc thẩm quyền của nhà nước và Chính phủ về tài nguyên đất và SDĐ, bao hàm cả về ý nghĩa kinh tế và môi trường với mục đích thúc đẩy quản lý hiệu quả, bền vững. Quản lý nhà nước về đất đai tập trung vào cách thức, cơ chế do nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền SDĐ. Cụ thể hơn, đây là quá trình Nhà nước quản lý đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau. Trong quản lý nhà nước về đất đai, chính sách pháp luật đất đai và quy hoạch SDĐ là công cụ nền tảng, cơ sở pháp lý, kinh tế và xã hội của hệ thống đó.
Riêng đối với quy hoạch SDĐ thì chỉ khi nào được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì quản lý nhà nước về quy hoạch SDĐ được xác lập có hiệu lực. Như vậy, quản lý nhà nước về quy hoạch SDĐ là tổng thể các cách thức, cơ chế và biện pháp do nhà nước thiết lập để quản lý việc thực hiện quy hoạch SDĐ đã được phê duyệt nhằm mục đích SDĐ hợp lý, tiết kiệm và hiệu 13 n quả trong một không gian và thời gian xác định, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường bền vững.