Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP 1. Những khái niệm cơ bản 1. Án tích và việc ghi nhớ án tích Thông thường, LLTP được hiểu là lý lịch về một cá nhân công dân trong đó có những thông tin chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định việc người đó có án tích hay không. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có những quy định giải thích về khái niệm án tích.
Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự nước ta không có sự giải thích thuật ngữ án tích nhưng tại chương IX của Bộ luật hình sự có quy định về xóa án tích. Theo đó, người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Như vậy, sự khác nhau giữa người có án tích và người không có án tích (kể cả người đã được xóa án tích) là ở chỗ người đó có bị coi là đã bị kết án hay chưa. Nội dung này liên quan đến một khái niệm khác trong pháp luật về hình sự, đó là khái niệm tiền án.
Khoản 2, Điều 224 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Trong bản án cần phải ghi rõ:…họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần xã hội, tiền án, tiền sự của bị cáo…”. Người có tiền án là người đã bị kết án và chưa được xóa án, đang bị coi là có án tích. Khái niệm án tích cũng liên quan đến các khái niệm “tái phạm”, “tái phạm nguy hiểm” quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự. Án tích là một khái niệm dùng để chỉ việc phạm tội trong quá khứ của một người đã bị Tòa án có thẩm quyền tuyên bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật và chưa được xóa án.
Nói cách khác, án tích là dấu tích thể hiện việc một người đã từng bị kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được xóa án. Trong quản lý Nhà nước về trật tự xã hội nói chung và trong hoạt động tư pháp nói riêng, việc ghi nhớ án tích của những người bị kết án là rất cần thiết. Bất cứ Nhà nước nào cũng cần có sự “phân loại” công dân của mình theo tiêu 13 Luan van chí thái độ của công dân đối với pháp luật. Một công dân gương mẫu chấp hành pháp luật cần phải được cộng đồng xã hội trân trọng.
Trái lại, một công dân thường xuyên vi phạm pháp luật thì Nhà nước và xã hội ngoài việc áp dụng những dạng, mức trách nhiệm pháp lý tương ứng, cũng cần có chính sách theo dõi, quản lý đặc biệt hơn, hạn chế hơn việc tham gia một số quan hệ nhất định đối với người đó. Những quan hệ pháp luật mà người chưa được xóa án tích không được phép tham gia thường là những quan hệ dễ có khả năng bị những công dân này phương hại, gây hậu quả xấu cho các chủ thể khác trong mối quan hệ đó và thậm chí ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của xã hội. Có thể nói, phần lớn các vi phạm hình sự đều bị coi là tội phạm. Vì vậy, bất kỳ Nhà nước nào cũng có những hạn chế và thử thách nhất định đối với những người vi phạm pháp luật hình sự sau khi thi hành xong bản án.
Trong hoạt động tư pháp, việc ghi nhớ án tích có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định nhân thân của người bị tình nghi phạm tội. Chính sách hình sự của các quốc gia thường có sự phân hóa đường lối xử lý với người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, ví dụ, Điều 3 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng…”. Cụ thể hóa đường lối xử trên, Điều 45 Bộ luật hình sự quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Trong lịch sử thế giới có những hình thức ghi nhớ án tích rất khác nhau.
Thời cổ đại, có những cách ghi nhớ án tích của những người bị kết án bằng việc để lại dấu tích trực tiếp trên thân thể kẻ phạm tội. Ví dụ việc thích chữ lên mặt phạm nhân là hình thức ghi nhớ án phạm để tất cả mọi người đều biết. Cũng có 14 Luan van trường hợp hình phạt đồng thời là ghi nhớ án tích như chặt ngón tay, chặt bàn tay của người phạm tội trộm cắp, biển thủ công quỹ… Như vậy, việc lập ra LLTP với tư cách là một loại văn bản của Nhà nước xác định việc công dân có hay không có án tích là hình thức ghi nhớ án tích của thời kỳ văn minh, là sản phẩm của văn minh. Là hình thức ghi nhớ án tích một cách văn minh, tính chất văn minh của án tích được thể hiện ở hai phương diện: Thứ nhất, nó tiết kiệm được thời gian, nhân lực, vật lực của bộ máy Nhà nước, bảo đảm cho công tác thống kê, lưu trữ, tra cứu được gọn nhẹ hơn, khoa học hơn.
Thứ hai, nó thể hiện được tính nhân văn của Nhà nước khi không cắt bỏ hay gây biến dạng cơ thể người phạm tội để khắc ghi dấu ấn phạm tội của người đó, giúp cho người phạm tội không bị đau đớn về thể xác và quan trọng hơn, giúp cho họ không bị mặc cảm và kỳ thị để tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội. Khái niệm Lý lịch tư pháp LLTP (trong tiếng Pháp: Le casier judiciaire) có nghĩa là cái tủ có nhiều ngăn chứa đựng những phán quyết của Tòa án. Một Thẩm phán người Pháp đã nghĩ ra cách ghi nhớ các án tích của người bị kết án bằng cách lưu trữ các phán quyết của Tòa án đối với người đó và trong một ngăn tủ riêng ghi tên của người đó (để tránh nhầm lẫn án tích của người này với người khác). LLTP là một khái niệm mang tính lịch sử xã hội.
Trước đây, LLTP chủ yếu được hiểu là LLTP về án tích của công dân nhằm xem xét việc người đó đã từng bị kết án bởi một bản án hình sự hay không. Criminal record trong tiếng Anh có nghĩa là lý lịch (hồ sơ) về hình sự, là hồ sơ ghi nhớ các phán quyết về hình sự của Tòa án đối với một người cụ thể. Nhìn chung, khái niệm LLTP của nhiều nước đồng nhất với khái niệm lý lịch hình sự, nói cách khác, là lý lịch ghi nhớ các phán quyết về hình sự của Tòa án đối với người phạm tội. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của 15 Luan van xã hội, đặc biệt khi các giao dịch kinh doanh – thương mại ngày một thể hiện vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại, việc lưu giữ, theo dõi và sử dụng các thông tin về một cá nhân công dân trong quá khứ đã từng bị Tòa án cấm hành nghề hoặc đảm nhiệm một số chức vụ, công việc như thành lập, quản lý doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Do đó, khái niệm LLTP được mở rộng ra khỏi lĩnh vực tư pháp hình sự mà bao gồm cả các lĩnh vực tư pháp phi hình sự. Cũng như pháp luật của nhiều quốc gia có nền hành chính – tư pháp phát triển và phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật LLTP của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đưa ra khái niệm LLTP như sau: LLTP là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nhiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Khái niệm trên xác định hai nội dung chính của LLTP: - LLTP là lý lịch về án tích của người bị kết án; - LLTP là lý lịch về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Ở nội dung thứ nhất, LLTP là nguồn thông tin chính thức về tình trạng tiền án của bị cáo để Tòa án xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với họ khi giải quyết những vụ việc cụ thể.
Xét theo góc độ này, thì những thông tin về LLTP có giá trị chứng minh bị cáo tái phạm hay không tái phạm, có thể coi LLTP là một công cụ góp phần bảo đảm nguyên tắc công bằng trong tố tụng hình sự. Khẳng định một người không có án tích khi đã được xóa án tích, LLTP góp phần bảo đẳm nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” được quy định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự, qua đó, thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật. 16 Luan van Trong giai đoạn thi hành án hình sự, LLTP giúp cho cơ quan thi hành án biết được quá khứ nhân thân của người thụ án, những đặc điểm phạm tội của họ… để có biện pháp giáo dục, cải tạo họ một cách thích hợp. Đặc biệt, LLTP giúp cho các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục đối với những người phải thi hành các hình phạt khác không phải là hình phạt tù như: Cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, trục xuất, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân… thuận lợi hơn khi thực hiện nhiệm vụ.
Ở nội dung thứ hai, LLTP còn là nguồn thông tin chính thức để các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức kinh tế… xem xét đạo đức, tư cách của cá nhân trong khi giải quyết những vụ việc cụ thể liên quan đến cá nhân đó như bầu cử, ứng cử, tuyển dụng nhân sự, đăng ký kinh doanh, làm thủ tục xuất, nhập cảnh… Chính vì vậy, ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong những năm gần đây, pháp luật thường quy định việc công dân phải xuất trình Phiếu LLTP khi tham gia vào một số quan hệ xã hội cụ thể.