Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật lý lịch tư pháp 1. Khái niệm về lý lịch tư pháp và khái niệm về thực hiện pháp luật lý lịch tư pháp. Khái niệm về lý lịch tư pháp.
Khái niệm “lý lịch tư pháp" được sử dụng khác nhau ở mỗi nước, nhưng đều hàm chứa những nội dung tương tự là ghi nhận thông tin về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền của nhà nước đã tuyên xử đối với một cá nhân. Trong quản lý nhà nước về trật tự xã hội nói chung và trong hoạt động tư pháp nói riêng, việc ghi nhớ án tích của những người bị kết án là rất cần thiết. Vì vậy, bất kỳ nhà nước nào cũng có những hạn chế và thử thách nhất định đối với những người vi phạm pháp luật hình sự sau khi thi hành xong bản án. Trong hoạt động tư pháp, việc ghi nhớ án tích có ý nghĩa quan trọng nhằm trong việc xác định nhân thân của người bị tình nghi phạm tội.
Ở nước ta, thời kỳ Pháp thuộc, chế độ LLTP ở nước ta được tổ chức khá chặt chẽ, có hệ thống nhằm phục vụ cho bộ máy tư pháp của chế độ thực dân. Thời kỳ này, ở mỗi cấp Toà án đều có Phòng lục sự với chức năng lập, lưu giữ và cấp Phiếu LLTP. LLTP được lập theo án đã có hiệu lực pháp luật, trong đó ghi các nội dung như: họ, tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, trú quán, tên của bố, mẹ, vợ, con, tên toà án đã xét xử, ngày tháng năm xét xử, tội danh, hình phạt. LLTP thực sự có giá trị pháp lý để Tòa án xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo.
LLTP được cấp theo yêu cầu của ông biện lý, đương sự và cơ quan nhà nước khi cần thiết theo quy định của pháp luật. 6 Luan van Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với việc hình thành và phát triển bộ máy tư pháp, công tác quản lý LLTP cũng được Nhà nước ta quan tâm. Ngày 02/11/1955, Bộ Tư pháp và Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên bộ số 1909-VHC về việc theo dõi LLTP và căn cước của bị can và những người bị tình nghi. Theo quy định này, công tác LLTP và căn cước can phạm đều tập trung vào một đầu mối do Bộ Công an đảm nhiệm.
Tuy nhiên, do chức năng cơ bản của ngành công an là phòng, chống tội phạm, nên trong thời kỳ này, quản lý lý lịch tư pháp được đồng nhất với quản lý hồ sơ căn cước can phạm. Ngày 04/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/NĐ-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Tư pháp, trong đó có quy định nhiệm vụ thống nhất quản lý lý lịch tư pháp [19]. Tiếp theo, tại Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ (thay thế Nghị định 38/NĐ-CP), nhiệm vụ quản lý LLTP vẫn được tiếp tục giao cho Bộ Tư pháp [20]. Ngày 08/02/1999, Bộ Tư pháp, Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
Đây là điểm mốc đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của lĩnh vực công tác này. Sau 9 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA, công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp đã đáp ứng kịp thời yêu cầu của công dân Việt Nam và người nước ngoài có thời gian cư trú tại Việt Nam, góp phần phục vụ nhu cầu quản lý hành chính nhà nước. Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt khi các giao dịch kinh doanh – thương mại ngày một thể hiện vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại, việc lưu giữ, theo dõi và sử dụng các thông tin về một cá nhân công dân trong quá khứ đã từng bị Tòa án cấm hành nghề hoặc đảm nhiệm một số chức vụ, công việc như thành lập, quản lý doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Do đó, khái niệm LLTP được mở rộng ra khỏi lĩnh vực tư pháp hình sự và bao gồm cả các lĩnh vực tư pháp phi hình sự.
Cũng như pháp luật của nhiều quốc gia có nền 7 Luan van hành chính – tư pháp phát triển và phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật LLTP đưa ra khái niệm LLTP như sau: “Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản”. Khái niệm trên xác định hai nội dung chính của LLTP: (i) LLTP là lý lịch về án tích của người bị kết án; (ii) LLTP là lý lịch về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Khái niệm về thực hiện pháp luật lý lịch tư pháp. Pháp luật hiện hành nước ta chưa có những quy định giải thích về khái niệm án tích.
Luật hình sự và luật tố tụng hình sự nước ta không có sự giải thích thuật ngữ án tích, tuy nhiên, tại Chương VI của Bộ luật hình sự năm 1985, Chương IX Bộ LHS 1999 và Chương X của Bộ LHS 2015 đều có quy định về xóa án tích, theo đó người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Như vậy, sự khác nhau giữa người có án tích và người không có án tích (kể cả người đã được xóa án tích) là ở chỗ người đó có bị coi là đã bị kết án hay chưa. Nội dung này liên quan đến một khái niệm khác trong pháp luật về hình sự, đó là khái niệm tiền án. Khoản 2, Điều 224 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về Bản án: “Trong bản án cần phải ghi rõ: ngày, giờ, tháng, năm và địa điểm phiên toà; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án; họ tên của Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần xã hội, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của bị cáo; họ tên của người bào chữa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị hại, 8 Luan van nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ”.
Điểm a, Khoản 2, Điều 260 của Bộ LTTHS 2015 quy định: Bản án “Tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật và những người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử”. Với quy định viện dẫn trên thì người có tiền án là người đã bị kết án và chưa được xóa án, đang bị coi là có án tích. Khái niệm án tích cũng liên quan đến các khái niệm “tái phạm”, “tái phạm nguy hiểm” quy định tại Điều 53 Bộ LHS 2015. Án tích là một khái niệm dùng để chỉ việc phạm tội trong quá khứ của một người đã bị Tòa án có thẩm quyền tuyên bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật và chưa được xóa án.
Nói cách khác, án tích là dấu tích thể hiện việc một người đã từng bị kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được xóa án. Chính sách hình sự của các quốc gia thường có sự phân hóa đường lối xử lý với người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, điểm c khoản 1 Điều 3 Bộ LHS 2015 quy định: "Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng". Cụ thể hóa đường lối xử lý trên, Điều 50 Bộ 9 Luan van LHS 2015 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Như vậy, có thể nói thực hiện pháp luật về LLTP là nguồn thông tin chính thức về tình trạng tiền án của bị cáo để Tòa án xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với họ khi giải quyết những vụ việc cụ thể.
Xét theo góc độ này thì những thông tin về LLTP có giá trị chứng minh bị cáo tái phạm hay không tái phạm, có thể coi LLTP là một công cụ góp phần bảo đảm nguyên tắc công bằng trong tố tụng hình sự. Khẳng định một người không có án tích khi đã được xóa án tích, LLTP góp phần bảo đảm nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" được quy định tại Điều 9 Bộ LTTHS năm 2003, và Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, qua đó thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật. Trong giai đoạn THAHS, LLTP giúp cho cơ quan thi hành án biết được quá khứ nhân thân của người thụ án, những đặc điểm phạm tội của họ. để có biện pháp giáo dục, cải tạo họ một cách thích hợp.