CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE NGƯỜI DAI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TÓ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI QUÁT NGƯỜI ĐẠI DIỆN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ: 1. Khái niệm dai diện của đương sự trong tố tụng dân sự: “Đại diện” theo Từ điển Tiếng Việt /à sự thay mặt cho cá nhân, tập thể”! [1. Theo Từ điển Luật học, “dai diện là việc một người, mot cơ quan, t6 chức xác lap, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyên dai diện.
Người đại điện là người nhân danh và vì các lợi ích của một người khác xác lap, thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại điện””. 575] Tại cuốn Những van dé cơ bản và thuật ngữ cua Bộ Luật Dan sự của tác giả Nguyễn Thùy Dương — Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh [3], khái niệm Đại diện được định nghĩa rõ ràng hơn dưới dạng là một hành vi, trong đó ton tại hai chủ thể: người đại diện và người được đại diện, người đại diện nhân danh người được đại diện thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm vi phạm vi thầm quyền đại diện. Quan hệ đại diện được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyên. Trường hợp pháp luật có quy định phải tự mình thực hiện giao dịch dân sự thì cá nhân không được cho người khác đại diện cho mình.
Có thé thay, cơ chế đại diện biểu hiện rõ rệt cho sự linh hoạt linh hoạt, mềm dẻo trong của đời sống pháp lý dân sự. Các giao dịch dân sự luôn có sự đa dạng trong chủ thể tham gia: chủ thé có thé là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, và đối với những chủ thể mà quyền lợi mang tính cộng đồng thì việc tham gia quan hệ pháp luật dân sự buộc phải thông qua hành vi của người đại diện, đối với cá nhân, pháp luật dân sự với sự đề cao nguyên tắc tôn trọng quyên tự định đoạt, được phép tham gia vào các 1 Trung tâm Từ điển học, Từ điển Tiếng Việt, Hà Nội - Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng, 2004. 2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển Luật học, Hà Nội: NXB. Giao thông vận tải, 2008.
giao dịch dân sự một cách gián tiếp và được hưởng lợi từ giao dịch đó thông qua một người khác. Chế định đại diện còn là một phương tiện pháp lý hữu ích đối với các cá nhân mà theo quy định của pháp luật thì không thể trực tiếp tham gia giao dịch dân sự, đưa họ tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, đảm bảo các quyền năng cơ bản của họ mà pháp luật cho phép họ. 141] Với nội dung cốt lõi như vậy, chế định đại diện được áp dụng vào hoạt động tô tụng dân sự. Hoạt động tô tụng dân sự là một hoạt động pháp lý nhằm giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động.
Mặt khác, chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật nội dung nêu trên thông thường chính là một bên chủ thé tham gia t6 tung dân su với tu cach là đương sự, do vay, tính đa dang va đòi hỏi linh hoạt về người tham gia quan hệ pháp luật của các chủ thé đó đã đặt ra yêu cầu áp dụng chế định đại diện trong Tố tụng dân sự. Đương sự trong tố tung dân sự là những người tham gia tố tụng dân sự dé bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo về lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyên, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sw. 108] Đương sự trong vụ việc dân sự cũng rất đa dạng, có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự; người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự. Đối với trường hợp đương sự là chủ thé mà quyền lợi mang tính cộng đồng, như đã nói ở trên, luôn đòi hỏi phải thông qua cơ chế đại diện dé bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp cho cộng đồng người đó.
Ngoài ra, tương tự như sự tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thê pháp luật dân sự hay đảm bảo quyên tham gia quan hệ pháp luật dân sự của một số chủ thé đặc biệt của pháp luật dân sự, pháp luật t6 tung dân sự cũng cho phép 3 Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, vol. Tập một, Hà Nội: NXB. Giáo dục Việt Nam, 2009. * Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Hà Nội: NXB.
Công an nhân dân, 2014. đương sự hoặc tự mình thực hiện quyên, nghĩa vụ t6 tung cua họ hoặc thông qua người khác tham gia tố tung thực hiện các quyền và nghĩa vụ tổ tung của đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Và những người tham gia tố tụng với tư cách nêu trên được gọi là người đại diện của đương sự. Là một dạng cụ thé của người đại diện trong khoa học pháp lý dân sự, người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự cũng với ý nghĩa thay mặt đương sự - một loại chủ thé tham gia tô tụng dân sự, nhân danh đương sự tham gia một quan hệ pháp luật — cụ thé là quan hệ pháp luật tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đó — là quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự nhằm bảo vệ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa cho khái niệm Người đại diện của đương sự như sau: “Người đại diện của đương sự trong tô tụng dân sự là người thay mặt cho đương sự tham gia tô tụng dân sự, thực hiện các quyên và nghĩa vụ tô tụng dé bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp cho duong sự trong to tụng dân sự” 1. Đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự: e_ Người đại diện thông thường là cá nhân có đủ năng lực pháp luật tổ tụng dân sự và năng lực hành vi tổ tụng dân sự: Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự với chức năng người thay mặt cho đương sự tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, trực tiếp thực hiện các quyên và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, do đó, người đại điện thông thường là cá nhân có du năng lực hành vi TTDS. Như đã nói, đối với trường hợp đương sự là tổ chức, tham gia tố tụng vì quyền lợi của cộng đồng tổ chức đó, tô chức là một chỉnh thé phức tạp hình thành bởi nhiều bộ phận khác nhau, không thể trực tiếp thực hiện các quyên, 10 nghĩa vụ tô tụng được, do đó, tất yêu phải có cá nhân cụ thé đứng ra đại diện cho toàn thé tô chức, trực tiếp thực hiện. Và chính vì tổ chức là chủ thé không thé trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng nên không thể thể hiện được một cách trực tiếp chức năng đại diện cơ bản của người đại diện.
Tuy nhiên, có một vài trường hợp đặc biệt, cơ quan, tô chức khởi kiện dé bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người khác cũng được xem là người đại điện của đương sự. Vốn di, cơ quan, tô chức không thé là chủ thé trực tiếp thực hiện quyền năng tố tụng cho người được đại diện, họ vẫn nhất thiết phải thông qua người đại diện cho tổ chức mình thực hiện chức năng đại diện nói trên. Có thé thấy, đến tận cùng thì chủ thể thực hiện chức năng đại diện vẫn là cá nhân, còn tư cách đại diện thì vẫn có thé được gan cho co quan, tô chức trong một SỐ trường hợp mà pháp luật quy định. Người được công nhận là người đại diện của đương sự phải là người thực hiện cơ chế đại diện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, được pháp luật TTDS quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Hay nói cách khác người đại diện phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự. Hơn nữa, cá nhân dé đủ điều kiện thực hiện chức năng đại diện của người đại diện của đương sự phải là cá nhân có đủ năng lực, nhận thức dé tự mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Hay nói cách khác, cá nhân thực hiện chức năng đại diện phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Theo đó, cá nhân này phải đáp ứng các điều kiện về độ tuổi và khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình mà pháp luật quy định.
e Người đại diện tham gia quan hệ tổ tụng trên cơ sở quan hệ đại diện và nhân danh đương sự thực hiện các quyên và nghĩa vụ tổ tụng của đương sự: Người đại diện không đương nhiên có tư cách t6 tụng ma ho có được tu cach đó hoặc do pháp luật quy định trong một SỐ trường hợp cụ thể hoặc do 11 đương sự trao cho thông qua cơ chế đại diện. Người đại diện tham gia đồng thời hai quan hệ pháp luật, một là quan hệ đại diện và hai là quan hệ tô tụng. Quan hệ đại diện là tiền đề để người đại diện tham gia tố tụng, nếu không có quan hệ đại diện, người đại diện không hình thành va không ai có tư cách tố tụng của đương sự thay đương sự tham gia gia tố tụng. Với ý nghĩa cơ bản của quan hệ đại diện là sự thay mặt của người đại diện đối với người được đại diện, người đại diện được pháp luật hoặc đương sự trao cho quyền tham gia tô tụng thay cho đương sự, thực hiện các quyền năng tổ tung của đương sự.
Tuy nhiên, người đại diện thực hiện các quyền năng đó dưới danh nghĩa của đương sự, vì quyền lợi của đương sự. Điều này phân biệt người đại diện với người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng đồng thời với đương sự, có vị trí pháp lý tương đối độc lập với đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng riêng biệt mà pháp luật quy định, không phải là thực hiện quyền và nghĩa vụ tổ tụng của đương sự.