Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chủ trương nhất quán và trọng tâm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Văn kiện Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 "Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới", đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện đồng bộ thể chế, chính sách nhằm đáp ứng tiến trình phát triển của đất nước. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các quan hệ xã hội không ngừng biến đổi và đan xen phức tạp. Pháp luật giữ vai trò là công cụ quản lý, định hướng và điều tiết cơ bản nhưng không thể can thiệp đơn lẻ vào mọi quan hệ mang tính cục bộ mà phải phối hợp với các thiết chế phi quan phương.

Thực tiễn quản lý xã hội bằng pháp luật tại Việt Nam giai đoạn vừa qua ghi nhận nhiều xung đột, bất cập:

  • Tình trạng "phép nước thua lệ làng" còn tồn tại dai dẳng tại nhiều vùng nông thôn, điển hình là việc các thiết chế tự quản áp đặt hương ước, quy ước trái luật, dẫn đến việc người dân tự ý thực hiện các hành vi trừng phạt thể xác đối với người vi phạm. Trong vòng hơn 10 năm (giai đoạn 2010 – 2023), đã xảy ra gần 30 vụ việc bắt giữ, hành hung dẫn đến tử vong đối với các đối tượng trộm cắp tài sản (trộm chó, trộm gà) mà cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm hình sự do người dân đồng loạt đứng tên nhận tội tập thể.
  • Hiện tượng một số tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc viện dẫn giáo luật để đứng ngoài sự điều chỉnh của pháp luật nhà nước, phát sinh tranh chấp và thiếu minh bạch trong việc quản lý, sử dụng nguồn thu công đức, tài trợ tại các cơ sở tín ngưỡng, di tích.
  • Nguy cơ một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân đạo, nhân quyền để tiến hành các hoạt động can thiệp vào công việc nội bộ và chống phá Nhà nước.
  • Sự gia tăng các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp trên không gian mạng do tính ẩn danh của các chủ thể tham gia.

Xuất phát từ các vấn đề thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp "Chủ thể quan hệ pháp luật — Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tại Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Tuấn Phong (chuyên ngành Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023) tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ các phương diện lý luận và thực trạng pháp lý điều chỉnh chủ thể quan hệ pháp luật.

Khóa luận xác định rõ mục tiêu và 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày cơ sở lý luận về khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật, xác định các đặc trưng, điều kiện cấu thành, phương thức thực hiện tư cách chủ thể và ý nghĩa của việc nghiên cứu chế định này.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động của các nhóm chủ thể trong đời sống xã hội; chỉ ra các thành tựu, bất cập và làm rõ nguyên nhân của thực trạng.
  3. Đề xuất các yêu cầu cụ thể nhằm hoàn thiện nội hàm, ngoại diên khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật; kiến nghị các giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật dưới góc độ lý luận (các quan điểm, học thuyết pháp lý, tư tưởng lập pháp quốc tế) và dưới góc độ thực tiễn (hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành và hoạt động thực tế của các chủ thể trong xã hội).
  • Phạm vi lý luận: Hệ thống quan điểm, học thuyết của các luật gia, nhà nghiên cứu pháp lý và tư tưởng lập pháp được ghi nhận trong khoa học pháp lý cũng như hoạt động lập pháp tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quan hệ pháp luật từ năm 2005 đến năm 2023 (mốc thời gian gắn với hiệu lực của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Hình sự sửa đổi, làm nền tảng cho sự phát triển của hệ thống pháp luật chuyên ngành).
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam và không gian mạng có địa chỉ IP hoạt động tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lênin để phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong việc hình thành các quy phạm pháp luật điều chỉnh chủ thể. Nghiên cứu đồng thời kế thừa có chọn lọc quan điểm của các học giả kinh điển như Montesquieu (Bàn về tinh thần pháp luật), Fukuzawa Yukichi (Bàn về văn minh), Trần Trọng Kim (Nho giáo), cùng các công trình lý luận của các nhà khoa học pháp lý trong nước (GS.TS. Nguyễn Minh Đoan, PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn, PGS.TS. Nguyễn Duy Quý...).

Về mặt quy phạm pháp luật thực định, khóa luận đối chiếu và phân tích các văn bản quy phạm pháp luật cơ bản của Việt Nam và pháp luật quốc tế:

  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2005 và năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Hộ tịch năm 2014; Luật Thương mại năm 2005; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Luật An ninh mạng năm 2018.
  • Văn bản dưới luật và văn bản điều hành: Quyết định số 340/TTg (1996), Nghị định số 12/2012/NĐ-CP, Thông tư số 05/2012/TT-BNG, Nghị định số 58/2022/NĐ-CP về quản lý hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP và Nghị định số 27/2018/NĐ-CP về quản lý dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; Thông tư số 04/2023/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý thu chi tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức.
  • Pháp luật so sánh: Bộ luật Dân sự Campuchia năm 2007 (Điều 3); Bộ luật Dân sự Nhật Bản năm 2006 (Khoản 1 Điều 33); Bộ luật Dân sự Liên bang Nga (Khoản 2 Điều 1); Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan năm 1925 (Điều 70).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Thu thập, hệ thống hóa và phân tích các giáo trình đại học, công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, án lệ và văn bản quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp diễn dịch (suy diễn): Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 để đi từ các nguyên lý triết học, học thuyết pháp lý đại cương nhằm xác lập khái niệm, đặc điểm và phân loại chủ thể quan hệ pháp luật.
  • Phương pháp quy nạp: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 để phân tích các tình huống, vụ việc thực tế (khảo sát hồ sơ 25 vụ việc tự xử tại làng xã trong giai đoạn 2010 – 2023, các vướng mắc trong quản lý tiền công đức, hoạt động của tổ chức phi chính phủ) nhằm khái quát thành các lỗ hổng lập pháp.
  • Phương pháp suy luận (tam đoạn luận): Sử dụng tại Chương 3 để kết nối tiền đề lý luận và dữ liệu thực trạng, từ đó suy ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
  • Cách tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận hệ thống (xem xét tổng thể mối quan hệ giữa ba nhóm thiết chế: làng xã, tôn giáo, tổ chức phi chính phủ trong cấu trúc xã hội) và tiếp cận liên ngành (kết hợp khoa học pháp lý với văn hóa học, xã hội học và triết học).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chủ thể quan hệ pháp luật

Chương này xây dựng định nghĩa học thuật: Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định để tham gia vào một hoặc các quan hệ pháp luật với địa vị pháp lý phù hợp với quan hệ pháp luật mình tham gia.

Chủ thể quan hệ pháp luật được xác định thông qua 03 đặc điểm bản chất:

  1. Tính ý chí: Phản ánh ý chí quản lý và điều hòa xã hội của giai cấp cầm quyền; chủ thể có thể xuất hiện từ các quan hệ xã hội tiền đề hoặc chỉ tồn tại thuần túy trong môi trường pháp lý do Nhà nước tạo lập (ví dụ: chủ thể trong quan hệ kinh doanh bảo hiểm).
  2. Tính hiện diện: Chủ thể phải có sự hiện diện khách quan trong đời sống xã hội hoặc trong môi trường pháp lý, được cá biệt hóa bởi các yếu tố nhận diện cụ thể.
  3. Tính hợp pháp: Chủ thể phải được pháp luật xác lập quyền, nghĩa vụ và đáp ứng các tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành thông qua các nguồn luật (văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế, tập quán pháp, án lệ).

Về phân loại, chủ thể gồm ba nhóm chính:

  • Cá nhân: Bao gồm công dân nước sở tại, người nước ngoài và người không quốc tịch.
  • Tổ chức: Bao gồm tổ chức có tư cách pháp nhân (đáp ứng đủ 4 điều kiện luật định về thành lập hợp pháp, cơ cấu tổ chức, tài sản độc lập, tự nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật) và tổ chức không có tư cách pháp nhân.
  • Nhà nước: Chủ thể đặc biệt, vừa ban hành pháp luật vừa trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật công và tư.

Điều kiện trở thành chủ thể là phải có năng lực chủ thể, cấu thành bởi năng lực pháp luật (khả năng hưởng quyền và nghĩa vụ do Nhà nước quy định) và năng lực hành vi pháp luật (khả năng tự mình bằng hành vi xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ và tự chịu trách nhiệm pháp lý). Năng lực pháp luật là tiền đề của năng lực hành vi pháp luật.

Phương thức thực hiện Điều kiện năng lực Cơ chế vận hành Ví dụ tiêu biểu
Tự mình thực hiện Có đủ cả năng lực pháp luật và năng lực hành vi Chủ thể tự nhân danh chính mình xác lập giao dịch và chịu trách nhiệm pháp lý. Bầu cử, đăng ký kết hôn, ký kết hợp đồng dân sự thông thường.
Bị động thực hiện Có năng lực pháp luật nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi do yếu tố khách quan Thông qua người đại diện theo pháp luật do luật định hoặc cơ quan có thẩm quyền chỉ định. Cha mẹ đại diện quản lý tài sản thừa kế cho con chưa thành niên; người giám hộ đại diện cho người mất năng lực hành vi.
Chủ động ủy quyền Có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi Tự nguyện chuyển giao quyền nhân danh thực hiện hành vi pháp lý cho bên được ủy quyền. Đại diện thương mại, ủy quyền thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ pháp lý.

Năm yếu tố chi phối việc xác định chủ thể quan hệ pháp luật bao gồm: (1) Trình độ văn minh nhân loại và các nguyên tắc pháp luật chung của cộng đồng quốc tế; (2) Hệ thống chính trị và bản chất nhà nước; (3) Chế độ kinh tế và quan hệ sản xuất; (4) Đặc trưng, tính cách dân tộc và truyền thống văn hóa; (5) Bối cảnh và nhu cầu phát triển xã hội trong từng giai đoạn lịch sử.

Chương 2: Thực trạng chủ thể quan hệ pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 phân tích thực trạng điều chỉnh pháp luật thông qua hơn 200 bộ luật, luật hiện hành và chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 với các đạo luật chuyên ngành:

  • Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập giao dịch dân sự, hoàn toàn bỏ trống tư cách ủy quyền của nhóm tổ chức không có tư cách pháp nhân.
  • Quy chế đại diện theo pháp luật của tổ chức không có tư cách pháp nhân (như hộ gia đình, tổ hợp tác, cơ sở tín ngưỡng) chưa có hướng dẫn rõ ràng về tiêu chuẩn xác định thành viên và quy trình cử người đại diện.

Về mặt thực tế, tác giả chia các nhóm chủ thể thành hai diện khảo sát:

1. Nhóm chủ thể đã được pháp luật thừa nhận tư cách nhưng cơ chế điều chỉnh chưa toàn diện:

  • Cá nhân bị kết án trong tố tụng hình sự: Giai đoạn thi hành án hình sự bản chất vẫn thuộc quy trình tố tụng, nhưng người bị kết án chưa được xác lập đầy đủ địa vị chủ thể tố tụng với các quyền cụ thể như quyền nhận quyết định thi hành án, quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ, quyền khiếu nại hành vi của cơ quan thi hành án.
  • Tổ chức tôn giáo: Được Điều 30 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 công nhận là pháp nhân phi thương mại. Tuy nhiên, việc áp dụng Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với tổ chức này bộc lộ xung đột, thể hiện qua phản ứng đối với Thông tư số 04/2023/TT-BTC về việc kiểm kê, kê khai tiền công đức. Nhiều cơ sở tôn giáo cho rằng tiền công đức không thuộc diện tài sản phải đăng ký công khai theo luật dân sự, dẫn tới sự thiếu minh bạch trong quản lý tài chính.
  • Tổ chức phi chính phủ nước ngoài: Mặc dù có các khung pháp lý từ Quyết định số 340/TTg (1996), Nghị định số 12/2012/NĐ-CP đến Nghị định số 58/2022/NĐ-CP, việc kiểm soát mục đích hoạt động phi lợi nhuận còn sơ hở, dẫn đến nguy cơ một số tổ chức quốc tế (như HRW) lợi dụng hoạt động nhân đạo để can thiệp nội bộ.
  • Chủ thể trên không gian mạng: Dù có Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP và Nghị định số 27/2018/NĐ-CP, tính ẩn danh trên Internet khiến việc truy nguyên và xác định thẩm quyền áp dụng chế tài đối với các hành vi xâm phạm quyền dân sự, hình sự gặp nhiều trở ngại.

2. Nhóm chủ thể đáp ứng điều kiện thực tế nhưng chưa được pháp luật quy định tư cách pháp lý:

  • Thiết chế tự quản làng xã: Chưa được thừa nhận tư cách pháp lý độc lập nên không có cơ chế cử người đại diện theo pháp luật và không có khối tài sản riêng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
  • Thực trạng bạo lực tự phát tại làng xã: Khóa luận khảo sát 25 vụ việc điển hình xảy ra từ năm 2010 đến tháng 7/2023. Điển hình là vụ án ngày 20/01/2010 tại xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình: sau khi bắt giữ đối tượng Nguyễn Văn Đua có hành vi trộm gà, trưởng thôn đã dùng loa phát thanh huy động khoảng 600 người dân kéo đến hội trường thôn để tra khảo, sau đó đám đông quá khích đã hành hung và đối tượng Đào Văn Vinh đã đâm tử vong nạn nhân Đua. Khi xử lý, cơ quan tố tụng gặp khó khăn do tập thể thôn viết đơn nhận tội chung.
Nhóm chủ thể Khung pháp lý hiện hành Bất cập, vướng mắc thực tiễn
Thiết chế làng xã Chưa có quy chế pháp lý về tư cách chủ thể Hoạt động dựa trên hương ước, lệ làng; phát sinh các vụ án "tự xử" tập thể (khảo sát 25 vụ việc từ 2010 đến 7/2023).
Tổ chức tôn giáo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016; BLDS 2015 Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ công khai, kiểm kê nguồn thu tiền công đức (Thông tư 04/2023/TT-BTC).
Người bị kết án Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Chưa được ghi nhận tư cách chủ thể độc lập có quyền khiếu nại trong giai đoạn thi hành án hình sự.
Tổ chức không có tư cách pháp nhân Bộ luật Dân sự 2015 (thiếu khuyết Điều 138) Không được trực tiếp ủy quyền tham gia giao dịch dân sự; thiếu cơ chế xác định người đại diện theo pháp luật.

Nguyên nhân của thực trạng: (1) Sự phát triển thiếu đồng bộ giữa nền kinh tế thị trường với hệ thống chính trị - xã hội; (2) Kiến trúc thượng tầng pháp lý chậm được đổi mới so với tốc độ biến đổi của thực tiễn đời sống; (3) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chồng chéo, chưa phân định rành mạch phạm vi điều chỉnh giữa luật chung và luật chuyên ngành.

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện chế định về chủ thể pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 đề xuất 03 nhóm định hướng và giải pháp cụ thể:

  1. Hoàn thiện quan điểm, nhận thức về chủ thể: Xây dựng nhận thức lý luận thống nhất gắn việc xác định chủ thể với mục tiêu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; nhìn nhận chủ thể là một hiện tượng khách quan đa chiều, có nguồn gốc từ đời sống xã hội trước khi được Nhà nước thể chế hóa.
  2. Hoàn thiện các quy phạm pháp luật thực định:
    • Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng bổ sung quyền được ủy quyền tham gia giao dịch dân sự cho các tổ chức không có tư cách pháp nhân.
    • Bổ sung quy định chi tiết về cơ chế bầu, cử người đại diện và xác định trách nhiệm tài sản của các thiết chế tự quản không có tư cách pháp nhân (hộ gia đình, cơ sở tín ngưỡng, cộng đồng dân cư).
    • Cụ thể hóa quy chế hoạt động tài chính của pháp nhân phi thương mại tại Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm tạo căn cứ pháp lý minh bạch cho việc quản lý các nguồn thu công đức, tài trợ của tổ chức tôn giáo.
    • Bổ sung chế định địa vị pháp lý của người bị kết án trong Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền con người trong giai đoạn thi hành án.
    • Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế giám sát hoạt động phi chính phủ nước ngoài theo Nghị định số 58/2022/NĐ-CP và định danh điện tử trên không gian mạng.
  3. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật: Nâng cao năng lực chuyên môn và ý thức pháp luật cho cán bộ cơ sở (trưởng thôn, cán bộ hộ tịch); đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật nhằm xóa bỏ tâm lý "lệ làng đứng trên phép nước"; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong việc kiểm soát các dòng tài chính tôn giáo và hoạt động phi chính phủ.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chủ thể quan hệ pháp luật theo quan điểm duy vật biện chứng; làm rõ cấu trúc 3 đặc điểm (tính ý chí, tính hiện diện, tính hợp pháp), 3 phương thức thực hiện tư cách chủ thể và 5 nhóm yếu tố chi phối. Tác giả đã tổng hợp và phân tích dữ liệu thực tiễn gồm 25 vụ việc vi phạm liên quan đến xử lý tự phát tại làng xã trong giai đoạn 2010 – 2023 (trong đó phân tích sâu vụ án năm 2010 tại Quỳnh Phụ, Thái Bình với 600 người tham gia), đồng thời đánh giá tác động của các văn bản pháp quy mới ban hành (Nghị định số 58/2022/NĐ-CP, Thông tư số 04/2023/TT-BTC).
  • Giải pháp đề xuất: Đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể, trực diện vào các điều khoản còn bất cập của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 75, Điều 138), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Đóng góp khoa học: Khóa luận đóng góp một cách tiếp cận mới khi xem xét chủ thể quan hệ pháp luật dưới góc độ một hiện tượng khách quan gắn với nguồn gốc xã hội, chỉ ra sự không đồng nhất giữa việc Nhà nước áp đặt ý chí lập pháp với sự tồn tại tự nhiên của các quan hệ xã hội trong giai đoạn chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu thực trạng thực tế chủ yếu tập trung vào một số nhóm chủ thể mang tính điểm nóng (thiết chế tự quản làng xã, tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ nước ngoài, cá nhân trên không gian mạng), chưa thể bao quát toàn bộ các loại hình chủ thể kinh doanh mới xuất hiện trong nền kinh tế số. Dữ liệu khảo sát thực tiễn về các vụ việc làng xã tự xử tập trung trong giai đoạn 2010 – 2023.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá tư cách chủ thể của các thực thể mới trong tương lai như trí tuệ nhân tạo (AI), các định chế tài chính phi tập trung, và xây dựng khung pháp lý chuyên sâu về cơ chế chịu trách nhiệm tài sản độc lập cho từng mô hình tổ chức không có tư cách pháp nhân tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Luật Dân sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Hành chính tại các cơ sở đào tạo luật.
  • Giá trị ứng dụng: Các phân tích lý luận về phương thức đại diện, ủy quyền và cơ sở dữ liệu thực tiễn 25 vụ việc tự xử tại làng xã có giá trị tham khảo thiết thực cho các cơ quan nghiên cứu lập pháp, cơ quan quản lý tư pháp và Tòa án trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật dân sự, hình sự và an ninh trật tự cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa chủ thể quan hệ pháp luật như thế nào và bao gồm những đặc điểm gì? Khóa luận định nghĩa: Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định để tham gia vào một hoặc các quan hệ pháp luật với địa vị pháp lý phù hợp. Chủ thể có 03 đặc điểm bản chất: tính ý chí, tính hiện diện và tính hợp pháp.

2. Điểm hạn chế chính của Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 được khóa luận chỉ ra là gì? Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Quy định này bỏ trống tư cách ủy quyền của nhóm tổ chức không có tư cách pháp nhân (như hộ gia đình, tổ hợp tác, cơ sở tín ngưỡng), dẫn đến việc các tổ chức này thiếu cơ sở pháp lý bình đẳng khi tham gia giao dịch.

3. Khóa luận sử dụng dẫn chứng thực tiễn nào để minh chứng cho tình trạng "phép nước thua lệ làng"? Tác giả đã thu thập và khảo sát 25 vụ việc xử tự hành xảy ra từ năm 2010 đến tháng 7/2023. Dẫn chứng điển hình là vụ việc ngày 20/01/2010 tại xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, khi trưởng thôn phát loa huy động khoảng 600 người dân đến nhà văn hóa thôn để tra khảo đối tượng trộm gà, dẫn tới việc đám đông hành hung và một người dân dùng dao đâm tử vong đối tượng, sau đó tập thể dân làng cùng viết đơn nhận tội gây khó khăn cho việc xử lý hình sự.

4. Vì sao việc quản lý tài sản, tiền công đức của tổ chức tôn giáo theo Thông tư số 04/2023/TT-BTC gặp phải vướng mắc pháp lý? Do Điều 30 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 công nhận tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại, nhưng định nghĩa về pháp nhân phi thương mại tại Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa quy định bắt buộc nghĩa vụ báo cáo, kê khai tài sản công đức (vốn không phải tài sản phải đăng ký quyền sở hữu), dẫn đến sự bất đồng quan điểm giữa cơ quan tài chính nhà nước và các tổ chức tôn giáo về quyền kiểm tra nguồn thu công đức.

5. Theo tác giả, người bị kết án trong giai đoạn thi hành án hình sự đang chịu thiệt thòi gì về mặt địa vị pháp lý? Người bị kết án chưa được thừa nhận đầy đủ tư cách chủ thể tố tụng trong giai đoạn thi hành án hình sự, dẫn đến việc thiếu vắng các quyền tố tụng cơ bản như quyền được nhận các quyết định thi hành án, quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ, và quyền khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền thi hành án.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Tuấn Phong là một công trình nghiên cứu hệ thống, giải quyết thấu đáo cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về chế định chủ thể quan hệ pháp luật tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2023. Dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp tiếp cận liên ngành, tác giả đã chỉ rõ các khoảng trống pháp luật thực định đối với thiết chế làng xã, tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ và chủ thể không gian mạng. Các luận điểm, số liệu thực tiễn và kiến nghị sửa đổi Bộ luật Dân sự cùng các luật chuyên ngành trong khóa luận mang giá trị khoa học và ứng dụng cao cho tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.