CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ TỊCH 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm hộ tịch Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Đây được coi là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình.
Công tác quản lý hộ tịch là một tổng thể của nhiều công việc như tuyên truyền giáo dục pháp luật về hộ tịch, tổ chức đăng ký hộ tịch, báo cáo thống kê tăng, giảm dân số, kiểm tra, xử lý vi phạm về đăng ký hộ tịch. Các công việc nêu trên phải được tiến hành thường xuyên tại cơ sở nhằm đảm bảo kịp thời, chính xác, đồng thời phải thuận tiện, tránh gây phiền hà cho dân. Từ trước đến nay, có khá nhiều quan niệm khác nhau về “Hộ tịch”. Các tác giả khác nhau đã giải nghĩa từ “hộ tịch” như sau: Tác giả Nguyễn Văn Khôn đã nêu khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán - Việt từ điển xuất bản năm 1960 như sau: “Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [31, tr.
Hay tác giả Nguyễn Lân cũng trình bày giải nghĩa từ “hộ tịch” trong cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt xuất bản năm 1989: “Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [33, tr. Trong cuốn Giản yếu Hán - Việt từ điển xuất bản năm 1992, tác giả Đào Duy Anh trình bày cách hiểu của mình đối với từ ghép “hộ tịch” là: “Hộ 7 tịch: quyển sổ của Chính Phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người” [1, tr. Hoặc là trong cuốn Từ điển Hán - Việt từ nguyên xuất bản năm 1999 của tác giả Bửu Kế, “hộ tịch” được hiểu là “Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường” [30, tr. Có thể nhận thấy cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của các tác giả tuy rằng khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều giải nghĩa “hộ tịch” có nét khá tương đồng: “hộ tịch” là quyển số chứa đựng các thông tin cơ bản của cá nhân như họ, tên, nghề nghiệp, quê quán.
Bên cạnh đó, một số từ điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” theo một cách khác, chẳng hạn như: Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên xuất bản năm 1998, từ ghép “hộ tịch” được giải nghĩa là: “Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng kí cư dân trong địa phướng mình theo từng hộ” [37, tr.442] Một cách hiểu khác về “hộ tịch” được tác giả Nguyễn Như Ý trình bày trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998 đó là: “Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [54, tr. Hay trong cuốn Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt do Nhà xuất bản văn hóa thông tin xuất bản năm 1999, tác giả Nguyễn Văn Đạm giải nghĩa “hộ tịch” khác hoàn toàn so với các cách giải nghĩa trên: “Hộ tịch là quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” [24, tr. Nhìn chung, các tác giả tuy đưa ra những cách định nghĩa khác nhau về hộ tịch nhưng tựu chung lại đều chỉ ra những dấu hiệu đặc trưng của hộ tịch, 8 đó là: Thứ nhất, hộ tịch là việc ghi chép các quan hệ gia đình của một người; Thứ hai, các quan hệ gia đình thuộc phạm vi quan tâm của hộ tịch phải là những quan hệ phát sinh trên cơ sở ba sự kiện quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người, đó là: khai sinh, hôn nhân và khai tử; Thứ ba, chứng thư hộ tịch là loại giấy tờ pháp lý có giá trị chứng minh chính xác các đặc điểm nhân thân cơ bản của một cá nhân. “Hộ tịch” là một khái niệm đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt.
Khái niệm này hoàn toàn không dễ dàng định nghĩa một cách rõ ràng, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó cũng không thuận tiện khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong thực tế, đã có những cuộc hội thảo trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, qua quá trình lịch sử, khái niệm này đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân. Do đó, các nhà xây dựng pháp luật đã dung hòa bằng việc sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản.
Theo đó, tại Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/10/1998 về việc đăng ký hộ tịch thì: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Trước khi có Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Bộ luật dân sự 1995 có riêng một mục quy định về hộ tịch. Bộ luật dân sự 1995 không đưa ra khái niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa về đăng ký hộ tịch tại điều 54 như sau: Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch. 9 Việc đăng ký hộ tịch là quyền, nghĩa vụ của mỗi người.
Việc đăng ký hộ tịch được thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định. Nghị định 158/2005/NĐ-CP tiếp tục sử dụng khái niệm “hộ tịch” đã được định nghĩa trong Nghị định 83/1998/NĐ-CP: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Nghị định 158/2005/NĐ-CP còn nêu thêm khái niệm “đăng ký hộ tịch” như sau: Đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền: a) Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; b) Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi. Theo quy định tại Điều 1 Luật hộ tịch 2014 quy định khái niệm về hộ tịch giống như nghị định số 158/2005/NĐ-CP tuy nhiên có xác định rõ các sự kiện: “Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết”.
Theo đó, Điều 3 của Luật hộ tịch quy định những sự kiện hộ tịch: 1. Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: a) Khai sinh; b) Kết hôn; c) Giám hộ; d) Nhận cha, mẹ, con; 10 đ) Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; e) Khai tử. Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: a) Thay đổi quốc tịch; b) Xác định cha, mẹ, con; c) Xác định lại giới tính; d) Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; đ) Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; e) Công nhận giám hộ; g) Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật. Điểm mới của Luật hộ tịch là không quy định khái niệm về giấy tờ hộ tịch. Luật quy định chỉ cấp 02 loại bản chính Giấy khai sinh và Giấy chứng nhận kết hôn. Đối với các sự kiện hộ tịch khác, sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký sẽ được cấp Trích lục hộ tịch tương ứng với từng sự kiện hộ tịch đã đăng ký.
Bản chính trích lục hộ tịch sẽ được chứng thực bản sao. Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh; nội dung Giấy khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản về cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật hộ tịch. 11 Giấy chứng nhận kết hôn là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp khi đăng ký kết hôn; nội dung Giấy chứng nhận kết hôn bao gồm các thông tin cơ bản quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật hộ tịch. Như vậy, trong khuôn khổ của nghiên cứu tại luận văn này, hộ tịch được hiểu là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết: khai sinh, kết hôn, nhận cha mẹ, thay đổi cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch, khai tử.
Pháp luật về hộ tịch 1. Khái niệm và khái quát sự hình thành, phát triển của pháp luật về hộ tịch ở nước ta Pháp luật về hộ tịch là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hộ tịch nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và góp phần trong công tác quản lý dân cư của nhà nước. Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch đã có lịch sử từ lâu đời. Thời kỳ phong kiến, thực dân, bên cạnh vấn đề quản lý đất đai thì vấn đề quản lý hộ tịch - con người là vấn đề trọng yếu, luôn được nhà nước quan tâm quản lý, thực hiện.