Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học ở Việt Nam" là luận án tiến sĩ luật học thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật, do tác giả Nguyễn Thị Thu Hương thực hiện. Luận án đặt trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nơi giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Về mặt thể chế, pháp luật Việt Nam đã từng bước phân định đội ngũ viên chức ra khỏi cán bộ, công chức, thể hiện qua việc ban hành Luật Viên chức năm 2010 nhằm phân định hoạt động nghề nghiệp của viên chức với hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, đồng thời thúc đẩy cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Tuy nhiên, như tác giả chỉ rõ trong phần Mở đầu, việc thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học sau khi Luật Viên chức ra đời đã bộc lộ nhiều điểm bất cập và vướng mắc trong cả hoạt động tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật. Nguyên nhân trực tiếp là sự tồn tại của nhiều văn bản pháp luật do các cơ quan khác nhau ban hành tại các thời điểm khác nhau cùng điều chỉnh đối tượng này, trong khi văn bản luật điều chỉnh chuyên biệt đối với viên chức trong trường đại học (với nòng cốt là đội ngũ giảng viên gắn với đặc thù lao động sư phạm và nghiên cứu khoa học) vẫn chưa được ban hành. Các tồn tại trước đây về tuyển dụng, sử dụng, quản lý và chính sách đãi ngộ chưa được giải quyết triệt để. Ngoài ra, việc thực thi pháp luật hiện hành đang tạo ra sự phân biệt lớn giữa trường đại học công lập và trường ngoài công lập mà chưa có cơ sở khoa học thuyết phục. Đây chính là khoảng trống học thuật và thực tiễn mà luận án tập trung giải quyết.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận của việc thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học; đối chiếu, khảo sát và phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật ở từng khâu, từng giai đoạn và hình thức cụ thể; từ đó xác lập các quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học ở Việt Nam hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định và giải quyết bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  • Một là: Tìm hiểu và phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học ở Việt Nam, tổng hợp và đánh giá các công trình khoa học đã công bố để kế thừa tri thức và phát hiện khoảng trống nghiên cứu.
  • Hai là: Tìm hiểu, phân tích và xây dựng khung các vấn đề lý luận của việc thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học, bao gồm khái niệm, nội dung, đặc điểm, tầm quan trọng, các tiêu chí đánh giá hiệu quả và các nhân tố bảo đảm cũng như tác động tới quá trình thực hiện pháp luật.
  • Ba là: Phân tích, đánh giá thực trạng, xác định thành tựu, bất cập, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học ở Việt Nam hiện nay.
  • Bốn là: Đề xuất các quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học ở Việt Nam hiện nay.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào khuôn khổ pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về viên chức trong các trường đại học ở Việt Nam. Các phân tích về thực hiện pháp luật đối với viên chức nói chung chỉ mang tính bổ trợ và so sánh.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung và chủ thể: Từ góc độ khoa học pháp lý, luận án không phân tích toàn bộ việc thực hiện pháp luật đối với người lao động trong trường đại học ngoài công lập, các trường thuộc lực lượng vũ trang và quân đội, vì theo quy định pháp luật hiện hành, các đối tượng này không được xác định là viên chức.
  • Phạm vi thời gian: Luận án khảo cứu tiến trình thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học từ giai đoạn 1997 - 1998 (thời điểm bắt đầu tiến hành đổi mới giáo dục đại học), trọng tâm là giai đoạn từ năm 2010 (khi Luật Viên chức được ban hành) cho đến thời điểm hoàn thành công trình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả tiến hành rà soát, phân loại và đánh giá một khối lượng lớn tài liệu học thuật theo ba hướng nghiên cứu chính:

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về thực hiện pháp luật:

  • Hệ thống giáo trình lý luận nền tảng: "Lý luận Nhà nước và pháp luật" của Học viện Công vụ Nga (2003); "Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật" (NXB Sách tiếng Nga); "Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật" của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2005 - 2007); "Lý luận Nhà nước và pháp luật" của Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu (NXB Giao thông Vận tải, 2009); "Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật" của Trường Đại học Luật Hà Nội (NXB Công an nhân dân, 2010). Các giáo trình này cung cấp khung lý thuyết kinh điển về khái niệm, bản chất và bốn hình thức thực hiện pháp luật.
  • Các công trình chuyên khảo và bài viết chuyên sâu: Cụm công trình của PGS. Nguyễn Minh Đoan gồm "Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam" (NXB Chính trị Quốc gia) và "Thực hiện pháp luật và văn hoá pháp lý trong đời sống xã hội" (giai đoạn 2009 - 2013); bài viết của Trần Văn Tuấn về thực hiện Luật Viên chức trên Tạp chí Tổ chức nhà nước; bài viết của PGS. Chu Hồng Thanh (2014) trên Tạp chí Luật sư về việc khắc phục tình trạng hỗn loạn của văn bản quy phạm pháp luật.
  • Các luận án tiến sĩ liên quan: Luận án của Vũ Thị Hồng Vân (2014) về "Thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay"; luận án của Nguyễn Văn Linh (2015) về "Thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay".

Thứ hai, nhóm nghiên cứu về cán bộ, công chức, viên chức:

  • Giai đoạn trước năm 2010: Đề tài khoa học cấp bộ "Luận cứ khoa học phân định ngạch công chức, ngạch viên chức" do TS. Nguyễn Minh Phương làm chủ nhiệm (nghiệm thu năm 2005); đề tài "Cơ sở khoa học của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính theo nhu cầu công việc" do TS. Nguyễn Ngọc Vân làm chủ nhiệm (Bộ Nội vụ nghiệm thu năm 2007); luận án tiến sĩ của Lương Thanh Cường (2008) về hoàn thiện chế định pháp luật công vụ, công chức; bài viết của Chu Văn Đức (2004) trên Tạp chí Tâm lý học về vấn đề động viên viên chức; sách của Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2005) về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức; bài viết của Nguyễn Trọng Điều (2006) trên Tạp chí Cộng sản; bài viết của PGS. Phạm Hồng Thái (2009) trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước về sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức.
  • Giai đoạn từ năm 2010 trở đi: Các đề tài cấp bộ do TS. Lại Đức Vượng chủ nhiệm (2010) và TS. Hà Quang Ngọc chủ nhiệm (2011) về phương pháp đánh giá cán bộ, công chức; bài viết của Văn Tất Thu (2010) và Trần Anh Tuấn (2010) trên Tạp chí Tổ chức nhà nước về cơ chế quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập; nghiên cứu về cải cách tiền lương của Lê Thị Thanh (2013); nghiên cứu về đào tạo kỹ năng của Thiều Huy Thuật và Phạm Thị Hồng Thắm (2013), Đinh Văn Tiến và Thái Vân Hà (2013); công trình của Nguyễn Minh Đoan, Lê Đăng Doanh, Bùi Thị Đào (2013) do NXB Hồng Đức ấn hành về trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức, viên chức; ấn phẩm của Nguyễn Hùng (NXB Lao động Xã hội) và Trần Đình Thắng (NXB Chính trị Quốc gia, 2013).

Thứ ba, nhóm nghiên cứu về giáo dục và giáo dục đại học:

  • Nền tảng tư tưởng và triết lý giáo dục: Các quan niệm từ Platon (thế kỷ IV TCN), J.J. Rousseau (thế kỷ XVIII), Emile Durkheim; đặc biệt là tư tưởng của John Dewey qua các tác phẩm "Trường học và xã hội" (1899), "Cách chúng ta nghĩ" (1910), "Dân chủ và giáo dục" (1916), "Kinh nghiệm và Giáo dục" (1938).
  • Các nghiên cứu trong nước về giáo dục đại học: Công trình của nhóm GS. Hoàng Tụy (2004), nhóm Trí thức Việt kiều (2005), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (2006), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2007), nhóm tác giả Nguyễn Thị Bình (2008); sách "Toàn cảnh giáo dục - đào tạo Việt Nam" của Nguyễn Quang Hưng, Trịnh Văn Chung, Vũ Thị Hương Giang (2000); sách "Quản lý nhà nước về giáo dục - lý luận và thực tiễn" của Đặng Bá Lãm (chủ biên), Nguyễn Cảnh Hồ, Vũ Ngọc Hải (2005); nghiên cứu của Nguyễn Hải Thập (2009) tại Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục; bài viết của Nguyễn Thị Thu Hà (2010), Vũ Ngọc Hải (2005), Phan Minh Tiến và Phạm Thế Kiên (2013); Kỷ yếu Hội thảo VUN (2010); Kỷ yếu "Đại học Humboldt 200 năm (1810-2010): Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam" do Ngô Bảo Châu, Pierre Darriulat, Cao Huy Thuần, Hoàng Tụy, Nguyễn Xuân Xanh, Phạm Xuân Yêm chủ biên (2011); "Đề án Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2005 – 2020" của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005); Báo cáo số 760/BC-BGDĐT (2009); đề tài cấp bộ do PGS. Chu Hồng Thanh chủ trì (2008, 2009).
  • Nghiên cứu về đại học ngoài công lập và giáo dục quốc tế: Sách "Giáo dục đại học Hoa Kỳ" của Lâm Quang Thiệp, D. Bruce Johnstone, Philip G. Altbach (2006 - 2007); bài viết của Nguyễn Thị Bình (2009) trên Tạp chí Cộng sản; Hội thảo của Ban Tuyên giáo Trung ương và Đại học Hòa Bình (2012); luận án tiến sĩ của Đặng Thị Minh (2014) về chính sách phát triển trường đại học tư thục; nghiên cứu về Singapore của Gopinathan (2005), về Thái Lan của Krissanapong Kirtikara (2005), về Trung Quốc của Xie Weihe (2005); sách của Nguyễn Quảng (2002) và nghiên cứu của F.K.S Leung về giáo viên Đông Á.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn: Các công trình nêu trên phần lớn phân tích công chức hành chính, hoặc gộp chung viên chức với công chức, hoặc chỉ tiếp cận quản lý giáo dục ở khía cạnh cơ chế điều hành chung. Chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về thực hiện pháp luật đối với viên chức trong các trường đại học công lập tại Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý sau thời điểm Luật Viên chức năm 2010 được ban hành. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng khung lý luận, đánh giá thực trạng đa chiều và đề xuất giải pháp đồng bộ gắn với bối cảnh đổi mới và tự chủ đại học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý luận về nhà nước và pháp luật, vận dụng các quy định của Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 và các văn bản luật thực định. Trọng tâm lý thuyết là chế định viên chức theo Điều 2 Luật Viên chức năm 2010: "Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật".

Luận án xác lập 5 đặc điểm của lao động viên chức:

  1. Lao động mang tính nghề nghiệp, phục vụ các nhu cầu cơ bản về thể lực, trí tuệ, văn hóa, tinh thần của người dân.
  2. Được thực hiện thông qua các tổ chức, đơn vị sự nghiệp chuyên ngành theo tiêu chuẩn chuyên môn thống nhất.
  3. Cung cấp sản phẩm phi hiện vật, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong dịch vụ công thiết yếu có thu phí hoặc lệ phí nhưng không hoàn toàn theo cơ chế thị trường.
  4. Không mang tính quyền lực nhà nước; được xã hội thừa nhận là hoạt động nghề nghiệp thuần túy.
  5. Đòi hỏi tính chuyên môn cao, sự tận tụy, trách nhiệm và phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp.
Văn bản pháp lý Thuật ngữ sử dụng Đặc điểm điều chỉnh theo ghi nhận của luận án
Sắc lệnh số 76/SL (1950) Công chức Điều chỉnh chung người giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ; chưa có khái niệm viên chức.
Hiến pháp 1980; Bảng số 1 (1982) Cán bộ, viên chức nhà nước Bắt đầu sử dụng chính thức thuật ngữ; ban hành danh mục chức danh viên chức nhà nước.
Hiến pháp 1992; Pháp lệnh CBCC 1998 Cán bộ, viên chức nhà nước Phân định ngạch "sự nghiệp" (làm việc ở đơn vị sự nghiệp) và ngạch "hành chính" (công chức cơ quan nhà nước).
Pháp lệnh CBCC sửa đổi (2003) Viên chức Xác định người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch viên chức hoặc giữ nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp; vẫn thuộc phạm vi "cán bộ, công chức".
Luật Cán bộ, công chức 2008 Cán bộ, công chức Chỉ điều chỉnh cán bộ, công chức cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; tách đối tượng viên chức ra khỏi luật.
Luật Viên chức 2010 Viên chức Tách hoàn toàn viên chức; quy định tuyển dụng theo vị trí việc làm, hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương đơn vị sự nghiệp.
Hiến pháp 2013 Cán bộ, công chức, viên chức Phân định chính thức địa vị pháp lý của 3 đối tượng; quy định quyền làm việc (Điều 35), thượng tôn pháp luật (Điều 4, Điều 12).

Về lý luận thực hiện pháp luật, tác giả kế thừa quan điểm của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (1995), Đào Trí Úc (1993) và Giáo trình của Đại học Luật Hà Nội (2010), phân chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Trong đó, áp dụng pháp luật đối với viên chức trong trường đại học là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành trong 3 trường hợp:

  • Khi cần truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với giảng viên, người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật;
  • Khi các quyền và nghĩa vụ pháp lý của viên chức không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu quyết định của chủ thể có thẩm quyền (như quyết định tuyển dụng, phê chuẩn bổ nhiệm chức danh của cơ quan chủ quản);
  • Khi cơ quan nhà nước tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý (ví dụ: Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ quản lý ngành).

Tuy nhiên, luận án tạo lập khung phân tích mới bằng việc khẳng định bốn hình thức trên luôn lồng chứa vào nhau và áp dụng pháp luật không phải là hình thức phổ biến nhất. Do đó, luận án tiếp cận thực hiện pháp luật theo chu trình tổ chức thực tiễn của các chủ thể:

  1. Xây dựng kế hoạch thực hiện, phân công trách nhiệm;
  2. Kiến nghị ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính đồng bộ;
  3. Bố trí tổ chức bộ máy, quản lý, nguồn lực tài chính;
  4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật;
  5. Tổ chức thực thi trong các hoạt động chuyên môn (tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đãi ngộ).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu định tính: Phân tích văn bản quy phạm pháp luật, phân tích tài liệu lịch sử pháp lý qua các thời kỳ, phương pháp so sánh pháp luật (đối chiếu quy định pháp luật về viên chức đại học của Nhật Bản, Cộng hòa Pháp và Trung Quốc).
  • Phương pháp khảo sát, thống kê xã hội học pháp lý: Sử dụng kỹ thuật điều tra, thống kê để khảo sát nhận thức và thực tiễn sử dụng pháp luật của đội ngũ giảng viên, chuyên viên; thống kê cơ cấu đội ngũ giảng viên tại các trường cao đẳng, đại học.

Nguồn tư liệu, dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam; Báo cáo số 760/BC-BGDĐT của Bộ GD&ĐT; Đề án Đổi mới giáo dục đại học 2005 - 2020; các văn bản pháp luật của Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc; dữ liệu khảo sát thực tế do tác giả trực tiếp thực hiện trong trường đại học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Chương này điểm luận hệ thống tài liệu trong và ngoài nước theo 3 mảng: thực hiện pháp luật, cán bộ - công chức - viên chức, và giáo dục đại học. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây đã có đóng góp đáng kể về mặt lý luận chung, nhưng mảng thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học công lập tại Việt Nam vẫn bị bỏ ngỏ, thiếu tính toàn diện và hệ thống. Các bài viết hiện có chủ yếu mang tính chất đơn lẻ, tham luận hội thảo hoặc bài báo, chưa làm rõ được các yếu tố đặc thù của hoạt động nghề nghiệp của giảng viên, sự khác biệt giữa trường công lập và trường ngoài công lập, cũng như mối quan hệ giữa tự chủ đại học và thực hiện chế độ hợp đồng làm việc. Chương này khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng một công trình chuyên khảo độc lập về đề tài.

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIÊN CHỨC TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Chương 2 làm rõ địa vị pháp lý của viên chức trong trường đại học (bao gồm nhà khoa học, giảng viên và viên chức hỗ trợ, phục vụ), phân loại theo vị trí việc làm (viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý) và theo chức danh nghề nghiệp (hạng I, hạng II, hạng III, hạng IV). Luận án xác định phạm vi điều chỉnh của pháp luật về viên chức trong trường đại học gồm 5 nhóm quy định: địa vị pháp lý; tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng; chế độ, chính sách, khen thưởng; trách nhiệm xây dựng phát triển đội ngũ và xử lý vi phạm; hợp tác quốc tế.

Tác giả chỉ rõ 4 đặc điểm của pháp luật về viên chức trường đại học: thể chế hóa trách nhiệm nhà nước; bảo đảm quyền con người và công bằng xã hội; gắn với đổi mới cơ chế tự chủ, xóa bỏ chế độ cơ quan chủ quản; bảo đảm tương quan giữa quy phạm pháp luật với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Luận án phân tích kinh nghiệm thực hiện pháp luật tại Nhật Bản (chuyển các đại học quốc gia sang thể chế pháp nhân độc lập), Cộng hòa Pháp (quy chế công chức nhà nước áp dụng rộng cho nhân viên dịch vụ công) và Trung Quốc (cải cách cơ chế hợp đồng và tự chủ), từ đó rút ra bài học tiếp thu cho Việt Nam. Chương 2 cũng trình bày phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và giả thuyết khoa học của đề tài.

Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIÊN CHỨC TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

Chương 3 tập trung khảo sát, phân tích việc thực thi Luật Giáo dục và Luật Viên chức tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Nội dung thực trạng được mổ xẻ qua 3 khâu chính:

  • Công tác xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn và cụ thể hóa Luật Giáo dục, Luật Viên chức của các bộ, ngành và bản thân các trường đại học;
  • Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức: các hình thức thi tuyển, xét tuyển, phân cấp tuyển dụng;
  • Thực hiện pháp luật về sử dụng, quản lý, đánh giá, bổ nhiệm viên chức, thực hiện quyền và nghĩa vụ, khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức.

Chương này sử dụng các dữ liệu bảng biểu và sơ đồ khảo sát cụ thể:

  • Bảng 3.1 (trang 86): Thống kê viên chức là giảng viên trong các trường cao đẳng, đại học năm học 2014 - 2015.
  • Bảng 3.2 (trang 108): Khảo sát giảng viên, chuyên viên sử dụng pháp luật về viên chức trong trường đại học.
  • Sơ đồ 3.1 (trang 99): Mô hình quản lý viên chức trong hai Đại học Quốc gia (Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Sơ đồ 3.2 (trang 99): Mô hình quản lý viên chức trong các trường đại học khác.

Tác giả rút ra kết luận thực trạng: Quá trình thực hiện đã đạt một số kết quả về chuẩn hóa ngạch bậc, ký kết hợp đồng làm việc, song tồn tại sự chồng chéo giữa quy định của ngành giáo dục và ngành nội vụ; đánh giá viên chức còn nặng tính hình thức; cơ chế cơ quan chủ quản vẫn can thiệp sâu vào nhân sự làm giảm tính tự chủ của nhà trường; chưa tạo lập được cơ chế pháp lý hữu hiệu bảo vệ quyền tự do học thuật của giảng viên.

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIÊN CHỨC TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trên cơ sở lý luận và thực trạng, tác giả xác lập hệ thống 5 quan điểm chỉ đạo:

  1. Phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học.
  2. Gắn với việc bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học.
  3. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ đối với việc thực hiện pháp luật về viên chức nói chung.
  4. Bảo đảm sự minh bạch, bình đẳng, quyền và lợi ích chính đáng, đặc biệt là quyền "tự do học thuật" của viên chức.
  5. Tính đến đặc thù của môi trường giáo dục đại học.

Đồng thời, luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp bảo đảm thực thi:

  1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về viên chức trong trường đại học.
  2. Điều chỉnh thống nhất pháp luật về viên chức giữa trường đại học công lập và tư thục.
  3. Bồi dưỡng và giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học.
  4. Xây dựng và ban hành Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhà giáo.
  5. Tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học.
  6. Củng cố các hiệp hội nghề nghiệp của viên chức trong ngành giáo dục, trong đó có kiến nghị thành lập Hội giáo chức Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận:

  • Kế thừa và đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về "thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học", khắc phục hạn chế của lý luận truyền thống vốn chỉ nhìn nhận thực hiện pháp luật dưới 4 hình thức cố định (tuân thủ, thi hành, sử dụng, áp dụng). Luận án đề xuất cách tiếp cận theo chu trình quản lý và tổ chức thực tiễn của các chủ thể: lập kế hoạch, phân công trách nhiệm; kiến nghị hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật; kiện toàn tổ chức, quản lý, bảo đảm nguồn lực tài chính; tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
  • Làm rõ tính chất đặc thù của thực hiện pháp luật về viên chức trường đại học so với các lĩnh vực sự nghiệp khác, chỉ ra việc áp dụng pháp luật không phải là hình thức duy nhất hay phổ biến nhất mà các hình thức luôn đan xen, lồng chứa nhau.
  • Chứng minh tầm quan trọng của việc thực thi pháp luật như một phương thức bảo đảm tính tối cao của pháp luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng gắn liền với nâng cao chất lượng đào tạo đại học.
  • Xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá và nhận diện các nhân tố bảo đảm cũng như tác động tới quá trình thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học.

Về mặt thực tiễn và giải pháp:

  • Phân tích kinh nghiệm thực hiện pháp luật đối với giảng viên, viên chức đại học tại Nhật Bản, Cộng hòa Pháp và Trung Quốc, từ đó đúc kết các bài học tham khảo cụ thể cho Việt Nam.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những khoảng cách giữa văn bản pháp luật thực định và thực tế triển khai tại các trường đại học ở Việt Nam.
  • Đề xuất các quan điểm và giải pháp mang tính đặc thù nghề nghiệp, nổi bật là: kiến nghị điều chỉnh thống nhất pháp luật giữa trường đại học công lập và ngoài công lập; xây dựng và ban hành Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhà giáo; bảo vệ quyền "tự do học thuật" của giảng viên; thành lập Hội giáo chức Việt Nam nhằm củng cố vai trò của hiệp hội nghề nghiệp trong giám sát chất lượng giáo dục.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế nghiên cứu: Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu do tác giả tự xác định, luận án giới hạn việc khảo cứu trong phạm vi các trường đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; không phân tích toàn diện việc thực hiện pháp luật đối với người lao động trong các trường đại học ngoài công lập, các trường đại học thuộc lực lượng vũ trang và quân đội vì các nhóm đối tượng này không mang tư cách pháp lý là viên chức theo Luật Viên chức 2010. Ngoài ra, nguồn dữ liệu khảo sát và số liệu thống kê được thu thập tại mốc thời gian năm học 2014 - 2015, gắn với thời kỳ đầu triển khai Luật Giáo dục đại học 2012 và Luật Viên chức 2010.

Hướng nghiên cứu tiếp: Từ các hạn chế về phạm vi nêu trên, các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể triển khai bao gồm:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật lao động đối với đội ngũ giảng viên giữa khu vực trường công lập và trường ngoài công lập trong tiến trình hội nhập và cạnh tranh dịch vụ giáo dục đại học.
  • Nghiên cứu cơ chế vận hành chi tiết và quy chế nội bộ của các cơ sở giáo dục đại học khi triển khai áp dụng Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhà giáo và bảo đảm quyền tự do học thuật trong điều kiện tự chủ đại học toàn diện.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Hành chính, Quản lý giáo dục và Hành chính công: Luận án cung cấp khung lý thuyết hệ thống về sự phát triển của chế định viên chức qua các thời kỳ lịch sử pháp lý Việt Nam (từ Sắc lệnh 76/SL năm 1950 đến Hiến pháp 2013), cách tiếp cận quy trình tổ chức thực hiện pháp luật và phương pháp so sánh pháp luật quốc tế (Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc).
  • Đối với các nhà quản lý giáo dục, hiệu trưởng và cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ tại các trường đại học: Nội dung Chương 2 và Chương 3 là tài liệu tham khảo thiết thực về tiêu chí đánh giá, các quy trình tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc, phân cấp bổ nhiệm và các bất cập cần nhận diện trong quản trị nhân sự đại học.
  • Đối với các cơ quan xây dựng chính sách, cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, các ủy ban chuyên môn của Quốc hội): Nhóm giải pháp và kiến nghị tại Chương 4 cung cấp căn cứ thực tiễn để nghiên cứu hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi Luật Giáo dục đại học, Luật Viên chức, xây dựng Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhà giáo và quy định về tự do học thuật.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khái niệm "viên chức" được pháp luật hiện hành và luận án xác định như thế nào? Theo Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 được trích dẫn trong luận án, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Khái niệm này phân định viên chức với cán bộ, công chức (những người làm việc trong cơ quan nhà nước, mang quyền lực công vụ).

  2. Cách tiếp cận mới của luận án về khái niệm "thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học" là gì? Luận án chỉ ra rằng trong môi trường đại học, 4 hình thức thực hiện pháp luật truyền thống (tuân thủ, thi hành, sử dụng, áp dụng) luôn lồng chứa vào nhau và áp dụng pháp luật không phải là hình thức phổ biến nhất. Do đó, luận án tiếp cận theo các bước hoạt động thực tiễn của chủ thể: xây dựng kế hoạch và phân công trách nhiệm; kiến nghị hoàn thiện văn bản pháp luật; tổ chức bộ máy, nhân lực, tài chính; tuyên truyền, phổ biến pháp luật; và trực tiếp thi hành trong các khâu tuyển dụng, sử dụng, đánh giá.

  3. Luận án đã khảo cứu kinh nghiệm thực hiện pháp luật của những quốc gia nào? Luận án khảo cứu kinh nghiệm thực hiện pháp luật về viên chức đại học tại ba quốc gia: Nhật Bản (mô hình chuyển đại học quốc gia sang cơ chế pháp nhân độc lập), Cộng hòa Pháp (quy chế công chức mở rộng áp dụng cho nhân viên dịch vụ công) và Trung Quốc (cải cách cơ chế hợp đồng làm việc và tự chủ đại học).

  4. Tại sao luận án không nghiên cứu người lao động trong trường đại học ngoài công lập và trường thuộc lực lượng vũ trang? Do góc độ chuyên ngành Luật học, phạm vi đối tượng của luận án được giới hạn bởi khuôn khổ Luật Viên chức năm 2010. Theo luật định, người lao động làm việc tại trường ngoài công lập và các trường thuộc quân đội, lực lượng vũ trang không thuộc diện viên chức sự nghiệp công lập, vì vậy luận án không đưa vào phạm vi phân tích toàn bộ.

  5. Những kiến nghị giải pháp mới nào được luận án nhấn mạnh ở Chương 4? Bên cạnh việc hoàn thiện văn bản pháp luật và tăng cường tự chủ, luận án đề xuất các giải pháp chuyên biệt: điều chỉnh thống nhất pháp luật giữa trường công lập và trường tư thục; xây dựng và ban hành Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhà giáo; bảo đảm bằng pháp lý quyền "tự do học thuật" của viên chức; và thành lập Hội giáo chức Việt Nam nhằm phát huy vai trò của tổ chức nghề nghiệp.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học ở Việt Nam. Công trình làm rõ bản chất pháp lý, đặc điểm lao động của viên chức giáo dục đại học, đồng thời phân tích những bất cập trong tổ chức tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và thực hiện chế độ tự chủ kể từ khi Luật Viên chức năm 2010 có hiệu lực. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm quốc tế của Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc và phân tích thực trạng thực nghiệm, luận án xác lập 5 quan điểm chỉ đạo và 6 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao ý thức pháp luật, bảo đảm quyền tự do học thuật và thúc đẩy đổi mới căn bản giáo dục đại học. Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đóng góp thiết thực cho khoa học pháp lý chuyên ngành và công tác quản lý giáo dục đại học tại Việt Nam.