phần mở đầu, kết luận, nội dung đề tài luận án chia làm 4 chƣơng, 11 tiết. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Những công trình nghiên cứu về đời sống tôn giáo ở Việt Nam và Thái Nguyên Trong những thập kỷ gần đây, việc nghiên cứu tôn giáo, tín ngƣỡng ở Việt Nam đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu về tôn giáo và đời sống tôn giáo đã đƣợc công bố, tiêu biểu nhƣ: Cuốn Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay (1998) do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, đã phác họa đời sống tôn giáo của nƣớc ta trong những thập niên 1990 từ góc độ tiếp cận lý luận cho đến thực tiễn.
Với bài viết Một số vấn đề lý luận và thực trạng tôn giáo Việt Nam, Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Có thể đƣa ra một định nghĩa về tôn giáo một cách khái quát tất cả những hiện tƣợng tôn giáo đã có. Đó là một bộ phận văn hóa tinh thần mà con ngƣời cảm nhận những điều của thế giới vô hình rút ra từ xã hội và tự nhiên mà họ đƣơng sống, tác động hƣ ảo vào sinh hoạt đời thƣờng và “cuộc sống thế giới bên kia”, theo cách suy nghĩ của nền văn hóa đang chi phối họ” [226, tr. Trên cơ sở này, tác giả đã khái quát một số đặc điểm tình hình tôn giáo, tín ngƣỡng của nƣớc ta, nhƣ: 1. Tuyệt đại bộ phận ngƣời Việt Nam có nhu cầu tôn giáo; 2.
Hệ thống tôn giáo chính của ngƣời Việt Nam là thờ những ngƣời đã khuất có công với nƣớc, với làng, với gia đình, dòng họ; 3. Việt Nam là nƣớc đa tôn giáo;. Công trình đã chỉ ra những vấn đề lý luận để tác giả của luận án nghiên cứu về đời sống tôn giáo và đặc điểm của đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên. Trong cuốn Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (2002) của Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận chung về tín ngƣỡng, tôn giáo nhƣ: Khái niệm tôn giáo, sự khác biệt giữa tín ngƣỡng và tôn giáo; xu hƣớng biến đổi của tôn giáo và tình 8 hình tôn giáo ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX.
Theo đó, tác giả nêu mô hình thực thể tôn giáo với bốn yếu tố: niềm tin tôn giáo gắn với lực lƣợng siêu nhiên; nội dung giáo lý, giáo luật; lễ nghi hay thực hành đức tin tôn giáo và cộng đồng tôn giáo bao gồm cả thiết chế giáo hội và cộng đồng tín đồ. Đây là công trình nghiên cứu tƣơng đối cơ bản những vấn đề lý luận chung về tôn giáo, rất hữu ích cho tác giả của luận án trong quá trình nghiên cứu. Cuốn Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam (2004), Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập hợp các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc về tôn giáo nói chung, về lý luận liên quan đến vấn đề tôn giáo nói riêng, những đặc điểm, vai trò của tôn giáo ở Việt Nam trong đời sống hiện nay. Ở phần thứ nhất - những vấn đề lý luận chung về tôn giáo, các bài viết tập trung làm sáng tỏ khái niệm và ngôn từ dùng trong tôn giáo.
Ở phần thứ hai - về các tôn giáo cụ thể ở Việt Nam, các bài viết đi vào phân tích sự phát triển, đặc điểm và xu hƣớng biến đổi của Phật giáo, Công giáo, đạo Tin lành, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Mẫu. Mặc dù phạm vi tiếp cận trong các kết quả nghiên cứu của cuốn sách đã bao quát đƣợc cả góc độ lý luận cũng nhƣ thực tiễn, song khái niệm, đặc trƣng, cấu trúc của đời sống tôn giáo lại chƣa đƣợc đề cập đến một cách rõ ràng, cụ thể. Vì vậy, vấn đề này cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn ở những công trình về sau. Cuốn Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam (2004) của Nguyễn Hồng Dƣơng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, với cách tiếp cận tôn giáo từ một số vấn đề lý luận, tác giả đi vào phân tích vai trò của một số tôn giáo cụ thể đối với văn hóa và phát triển ở nƣớc ta, nhƣ: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Công giáo, Tin lành.
Điểm lƣu ý trong công trình nghiên cứu này là tác giả đã đƣa ra khái niệm tôn giáo với những hƣớng tiếp cận khác nhau. Thứ nhất, tôn giáo tiếp cận theo hƣớng bản thể nhằm mục đích đi vào nghiên cứu, lý giải bản chất tôn giáo. Thứ hai, tôn giáo tiếp cận theo hƣớng chức năng 9 nhằm mục đích chỉ ra vai trò, vị trí của tôn giáo trong đời sống chính trị - văn hóa - xã hội. Thứ ba, tôn giáo tiếp cận theo hƣớng tổng hợp nhằm mục đích lý giải cả bản chất lẫn vai trò và chức năng của tôn giáo.
Với cách tiếp cận này, công trình nghiên cứu đã giúp cho tác giả luận án có cái nhìn đa chiều về đời sống tôn giáo để từ đó có thể rút ra những kết luận một cách khách quan và toàn diện về vấn đề mà luận án quan tâm. Tác phẩm Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội (2010) của Đỗ Quang Hƣng, Nxb Hà Nội, kết hợp phƣơng pháp lịch sử tôn giáo tác giả dựng lại lịch sử các tôn giáo chính ở Thăng Long - Hà Nội nhƣ Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài. cũng nhƣ các loại hình tín ngƣỡng và đặt nó trong tổng thể không gian tâm linh tín ngƣỡng Thăng Long - Hà Nội, từ đó đƣa ra những nhận xét bƣớc đầu khá thú vị về đời sống tôn giáo tín ngƣỡng ở đây. Mặc dù tác giả không chỉ rõ những vấn đề lý luận cụ thể về khái niệm cũng nhƣ đặc trƣng cơ bản của đời sống tôn giáo, song tác giả đã thành công khi chỉ ra rằng, đời sống tôn giáo, tín ngƣỡng là một bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần, xã hội của ngƣời Thăng Long - Hà Nội và nó cũng biến đổi cùng với sự biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội.
Công trình này đã gợi mở cho tác giả hƣớng tiếp cận nghiên cứu đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên từ quá khứ cho đến hiện tại. Bài viết Tái cấu hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Những thách thức về mặt pháp lý của Đỗ Quang Hƣng, Tạp chí Công tác tôn giáo, số 7/2011, trên cơ sở làm rõ khái niệm quan trọng tái cấu hình đời sống tôn giáo và một số khái niệm có liên quan nhƣ thị trường tôn giáo, sự phục hồi tôn giáo, bƣớc đầu nêu ra một số vấn đề có tính hệ luận khi đời sống tôn giáo xuất hiện trạng thái “tái cấu hình” và những suy tƣ cá nhân góp phần vào việc giải quyết những thách thức mới ấy về mặt pháp lý. Theo tác giả điểm đáng chú ý nhất của đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay là đã và đang có sự thay đổi cơ bản của “cái tôn giáo”, đó là sự tái cấu hình tôn giáo trong đời sống xã hội nói chung và trong quan hệ của nó với hệ thống pháp lý nói riêng. 10 Kỷ yếu hội thảo Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2011, do Viện Tôn giáo và tỉnh Thái Nguyên tổ chức.
Kỷ yếu gồm hai phần với 19 bài tham luận, đã phân tích, đánh giá về thân thế, sự nghiệp, vị trí, vai trò của linh mục Phạm Bá Trực trong phong trào yêu nƣớc của ngƣời Công giáo và đƣờng hƣớng đồng hành cùng dân tộc của ngƣời Công giáo Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Cuốn Đời sống tôn giáo ở Việt Nam và Trung Quốc (2011), do Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Đại học Trung Sơn, Trung Quốc chủ biên, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, là kết quả của cuộc hội thảo khoa học diễn ra vào tháng 4 năm 2010 tại Việt Nam với gần 30 báo cáo khoa học của các nhà nghiên cứu Việt Nam và Trung Quốc xoay quanh vấn đề tôn giáo, tín ngƣỡng ở Việt Nam và Trung Quốc với nhiều khía cạnh khác nhau nhƣ nghi lễ, hƣơng ƣớc, biến đổi đối tƣợng thờ cúng, vai trò của tôn giáo với đời sống. Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến một số vấn đề tôn giáo học nhƣ niềm tin tôn giáo, tính tôn giáo, phƣơng pháp nghiên cứu tôn giáo học,. Kết quả nghiên cứu của cuốn sách giúp cho tác giả luận án có cơ sở thực tiễn để nghiên cứu về đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay.
Luận án tiến sĩ Dân tộc học Đời sống tôn giáo của tín đồ đạo Cao Đài trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ (2010) của Huỳnh Ngọc Thu, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ nhƣ tôn giáo, đời sống tôn giáo. Tác giả cho rằng, “đời sống tôn giáo có thể hiểu là những hoạt động liên quan đến tôn giáo của con ngƣời và xã hội. Những hoạt động này có thể bao gồm: hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngƣỡng, tổ chức tôn giáo, hội đoàn tôn giáo. Mặc dù tiếp cận theo quan điểm dân tộc học và nhân học, song công trình nghiên cứu này là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án hoàn thành mục đích và nhiệm vụ đề ra, nhất là khi nghiên cứu khái niệm đời sống tôn giáo.
11 Luận án Tiến sĩ Triết học Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách ở Việt Nam hiện nay (2013) của Nguyễn Hoài Sanh, Viện Khoa học xã hội đã hệ thống hóa, góp phần làm rõ các quan điểm cơ bản về tín ngƣỡng, tôn giáo và đời sống tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Luận án bƣớc đầu đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề tín ngƣỡng, tôn giáo, tạo môi trƣờng thuận lợi cho sự phát triển đất nƣớc. Mặc dù luận án chƣa làm sáng tỏ khái niệm cũng nhƣ cấu trúc của đời sống tôn giáo, song những kết luận rút ra từ luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay.