Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (mã số 9.09) với đề tài "Đời sống tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mạnh Anh thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Quốc Tuấn và TS. Nguyễn Thị Minh Ngọc.
Về tính cấp thiết, bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy đời sống tôn giáo tại Việt Nam có xu hướng phát triển mạnh. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản pháp luật quan trọng như Nghị quyết số 25-NQ/TW năm 2003, Hiến pháp năm 2013 và Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tỉnh Thái Nguyên là địa bàn trung du miền núi, cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội, là nơi hội tụ 45 thành phần dân tộc cùng sinh sống. Toàn tỉnh hiện diện 03 tôn giáo chính gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành với khoảng 120.000 tín đồ, bên cạnh sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới. Trong thực tiễn quản lý, địa phương nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như hiện tượng sử dụng đất, cơi nới, xây sửa nơi thờ tự chưa đúng quy định; tình trạng chia, tách, sáp nhập tổ chức tôn giáo trực thuộc; hoạt động sinh hoạt tập trung theo điểm nhóm Tin lành tự phát; khiếu kiện tranh chấp đất đai tôn giáo (điển hình như vụ việc nhà thờ xứ Thái Nguyên); cùng với hoạt động của tổ chức Dương Văn Mình hay Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ. Một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế về nhận thức chuyên môn, dẫn đến công tác tham mưu và phối hợp quản lý chưa đồng bộ.
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây tại địa phương chủ yếu tiếp cận tình hình tôn giáo dưới góc độ an ninh trật tự, khảo sát riêng lẻ từng giáo hội hoặc nghiên cứu quản lý hành chính trong các giai đoạn ngắn. Chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách toàn diện và hệ thống dưới góc nhìn chuyên ngành Tôn giáo học về diện mạo, đặc điểm đời sống của cả 4 loại hình tôn giáo gắn liền với thực trạng công tác quản lý nhà nước tại Thái Nguyên trong thời kỳ đổi mới.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ thực trạng đời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ quá trình hình thành và đặc điểm của đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên.
- Làm rõ công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo tác động đến đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay - những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay.
Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận, thực tiễn đời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên như thế nào?
- Thực trạng đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay như thế nào? Đặc điểm đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên tác động, ảnh hưởng như thế nào đối công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở địa phương?
- Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay như thế nào?
- Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên đang đặt ra vấn đề gì? Cần có giải pháp gì để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên, nhằm đảm bảo đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên ổn định và phát triển?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu bao gồm:
- Đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên được hình thành trong quá trình lịch sử với 04 loại hình tôn giáo, cụ thể là Phật giáo, Công giáo, Tin lành và các hiện tượng tôn giáo mới. Đời sống tôn giáo của các tôn giáo trên có điểm tương đồng song mỗi loại hình cũng có sắc thái riêng.
- Các cộng đồng tôn giáo ở Thái Nguyên được hình thành chủ yếu do những người từ nơi khác di cư đến (người Kinh từ miền xuôi lên, người Mông di cư từ các tỉnh khác đến); các cộng đồng này mới được hình thành hoặc đang trong quá trình hình thành; thành phần xã hội, tộc người khá đa dạng; các tôn giáo đẩy mạnh hoạt động, xây dựng tổ chức và cơ sở vật chất, tác động sâu sắc đến công tác quản lý nhà nước.
- Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở địa phương đã đạt được những thành tựu quan trọng, tổ chức bộ máy và cán bộ được củng cố, hoạt động tôn giáo từng bước đi vào nền nếp theo quy định pháp luật.
- Đời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đang đặt ra nhiều vấn đề cần chấn chỉnh: sinh hoạt chưa tuân thủ pháp luật, các hiện tượng tôn giáo mới chưa có chế tài xử lý hữu hiệu, một số quy định pháp luật chưa sát thực tế địa phương, cơ sở thờ tự của các điểm nhóm Tin lành còn nhiều vướng mắc.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đời sống tôn giáo (tập trung vào ba yếu tố: cộng đồng tôn giáo, niềm tin tôn giáo, thực hành niềm tin tôn giáo) và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo tại tỉnh Thái Nguyên.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Thái Nguyên (gồm 9 đơn vị hành chính cấp huyện).
- Về thời gian: Khảo sát từ khi Đảng ban hành đường lối đổi mới về công tác tôn giáo (Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị), trọng tâm là từ khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 có hiệu lực đến năm 2017-2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành phân loại và tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước theo hai nhóm nội dung chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về đời sống tôn giáo tại Việt Nam và Thái Nguyên:
- Về mặt lý luận chung, tác phẩm Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay (1998) và Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (2002) của Đặng Nghiêm Vạn đã cung cấp định nghĩa tổng quát về tôn giáo và xác lập mô hình thực thể tôn giáo gồm 4 yếu tố cấu thành (niềm tin siêu nhiên; nội dung giáo lý, giáo luật; lễ nghi, thực hành đức tin; cộng đồng tôn giáo gồm giáo hội và tín đồ).
- Cuốn Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam (2004) do Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo chủ biên đã phân tích sự phát triển và xu hướng biến đổi của Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài. Công trình Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam (2004) của Nguyễn Hồng Dương phân tích tôn giáo theo ba hướng tiếp cận: bản thể, chức năng và tổng hợp.
- Tác phẩm Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội (2010) và bài viết "Tái cấu hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Những thách thức về mặt pháp lý" (2011) của Đỗ Quang Hưng đã làm rõ khái niệm tái cấu hình tôn giáo, thị trường tôn giáo và sự phục hồi tôn giáo trong mối liên hệ với hệ thống pháp luật.
- Kỷ yếu hội thảo Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) (2011) và cuốn Đời sống tôn giáo ở Việt Nam và Trung Quốc (2011) do Viện Nghiên cứu Tôn giáo chủ trì cung cấp góc nhìn về sự đồng hành dân tộc và các chiều cạnh nghi lễ, niềm tin tôn giáo.
- Các luận án tiến sĩ liên quan gồm công trình của Huỳnh Ngọc Thu (2010) về đời sống tôn giáo của tín đồ Cao Đài dưới góc độ nhân học/dân tộc học, và công trình của Nguyễn Hoài Sanh (2013) về các vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.
- Các công trình chuyên biệt tại Thái Nguyên gồm: Đề tài khoa học cấp tỉnh mã số KX05-04 do Nguyễn Kim Huỳnh (2005) chủ nhiệm khảo sát thực trạng tổ chức, cơ sở thờ tự, đất đai của Công giáo, Phật giáo và chuyên đề về đạo Tin lành trong đồng bào dân tộc thiểu số (Mông, Dao); luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thùy Dung (2015) về ảnh hưởng của lối sống đạo Công giáo đến đời sống tinh thần giáo dân Thái Nguyên; bài viết của Trịnh Thị Mai (2010) về phong trào thi đua yêu nước của đồng bào Công giáo địa phương.
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo:
- Cuốn Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay (2001) của Nguyễn Hữu Khiển, các tác phẩm Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội (2003) và Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền (2014) của Đỗ Quang Hưng đã định hình khung lý luận về quan hệ thế tục, thể chế pháp quyền và xác định quan hệ Nhà nước - Giáo hội là vấn đề chính trị - xã hội cốt lõi.
- Cuốn Quản lý hoạt động tôn giáo - Cơ sở lý luận và thực tiễn (2005) do Bùi Đức Luận chủ biên đã phân tích mục tiêu, chủ thể, khách thể, phương pháp quản lý tôn giáo. Tác giả Nguyễn Tất Đạt với hai cuốn sách công bố năm 2016 và 2017 đã hệ thống hóa các thủ tục hành chính và đối sánh điểm mới giữa Pháp lệnh năm 2004 và Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
- Đề tài cấp Bộ do Ngô Văn Minh (2010) chủ nhiệm về quản lý nhà nước ở Tây Nguyên; luận án tiến sĩ của Bùi Hữu Dược (2014) về quản lý nhà nước giai đoạn 1975 đến nay (nhấn mạnh yêu cầu nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ quản lý); bài viết của Hoàng Minh Đô (2006) trên Tạp chí Lịch sử Đảng tổng kết 20 năm đổi mới công tác tôn giáo.
- Tại địa bàn Thái Nguyên, đề tài của Ngô Quang Bắc (2006) khảo sát an ninh trật tự trong hoạt động Công giáo; luận văn thạc sĩ của Lê Quốc Tuấn (2011) về công tác đối với đạo Tin lành từ Chỉ thị 01/2005/CT-TTg; khóa luận của Nguyễn Tiến Dũng (2012) và nghiên cứu của Hoàng Thị Lan phân tích kết quả quản lý tôn giáo giai đoạn 2004-2011.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: Kế thừa các kết quả lý luận và tư liệu thực tiễn của các tác giả đi trước, luận án tiến hành nghiên cứu một cách chỉnh thể, có hệ thống toàn bộ bức tranh đời sống tôn giáo (gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành và các hiện tượng tôn giáo mới) và phân tích mối quan hệ tác động qua lại với công tác quản lý nhà nước tại Thái Nguyên từ năm 1990 đến năm 2017 dưới lăng kính Tôn giáo học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo. Đồng thời, tác giả vận dụng 4 khung lý thuyết khoa học chuyên ngành và liên ngành:
- Lý thuyết thực thể tôn giáo: Tiếp cận tôn giáo như một thực thể xã hội đặc thù gồm 4 thành tố: niềm tin vào cái thiêng, nội dung giáo lý, thực hành lễ nghi và cộng đồng người có cùng niềm tin với 5 tính chất (tính lịch sử, tính tập thể, tính vật thể, tính biểu tượng và tính kinh nghiệm). Lý thuyết này được sử dụng chủ đạo tại Chương 2 để phân tích diện mạo, cộng đồng, niềm tin và sự hành đạo của từng tôn giáo.
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Do É. Durkheim, M. Weber, B. Malinowski phát triển. Tôn giáo được xem như một hệ thống cấu trúc gồm nhiều thiết chế, bộ phận vận hành tương tác nhằm thực hiện chức năng liên kết xã hội, củng cố cộng đồng dựa trên nền tảng niềm tin và thực hành đức tin. Khung lý thuyết này giúp giải thích cơ cấu tổ chức giáo hội, sự tương tác của chức sắc - tín đồ và vai trò của quản lý nhà nước trong cấu trúc chính trị - xã hội địa phương.
- Lý thuyết xung đột (lý thuyết mâu thuẫn): Khởi xướng bởi K. Marx và F. Engels, nhấn mạnh các mâu thuẫn xã hội là nguồn gốc của sự biến đổi. Luận án vận dụng lý thuyết này để nhận diện độ "vênh" giữa giáo lý, giáo luật tôn giáo với pháp luật nhà nước và tập quán văn hóa bản địa (như giới răn cấm ngừa thai, cấm ly hôn của Công giáo mâu thuẫn với chính sách dân số và Luật hôn nhân - gia đình; quan điểm không tham gia chính trị của một số hệ phái Tin lành; việc dỡ bỏ bàn thờ tổ tiên khi theo đạo Tin lành hoặc tổ chức Dương Văn Mình mâu thuẫn với phong tục cổ truyền của người Việt, người Mông).
- Lý thuyết khoa học quản lý: Xác định quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo được xem xét theo nghĩa rộng (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) và nghĩa hẹp (hệ thống cơ quan hành pháp gồm Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo, Công an, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng). Khách thể quản lý là tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, tín đồ và các hoạt động tôn giáo cụ thể căn cứ theo quy định tại Điều 60 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp các phương pháp định tính và kỹ thuật liên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu (phân loại và hệ thống hóa): Là phương pháp quan trọng nhất nhằm thu thập, sàng lọc, hệ thống hóa nguồn tư liệu văn bản từ hai phía: văn bản quản lý của các cơ quan Nhà nước và tài liệu nội bộ, kỷ yếu, báo cáo từ các tổ chức tôn giáo.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Bao gồm kỹ thuật quan sát tham dự các sinh hoạt tôn giáo; phương pháp điều tra khảo sát thực địa, tọa đàm, phỏng vấn sâu chức sắc, chức việc, tín đồ và cán bộ làm công tác tôn giáo tại các địa bàn trọng điểm; phân tích tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Chia nhỏ các dữ liệu thực tế về đời sống tôn giáo và công tác quản lý để làm rõ bản chất, sau đó khái quát hóa thành các đặc điểm và vấn đề đặt ra.
- Phương pháp lịch sử: Kết hợp giữa lịch đại và đồng đại, hồi cố quá trình du nhập, phát triển của các tôn giáo tại Thái Nguyên qua các thời kỳ.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa các tôn giáo trên địa bàn, so sánh thực tiễn tại Thái Nguyên với các địa phương khác và đối chiếu giữa các giai đoạn chính sách trước và sau năm 2004.
Nguồn dữ liệu của luận án gồm hệ thống văn bản pháp quy, báo cáo hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo tỉnh, số liệu điều tra kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số và dữ liệu khảo sát thực địa của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương này trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề, xây dựng khung lý thuyết, xác lập hệ thống khái niệm công cụ và khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Về địa bàn nghiên cứu, tỉnh Thái Nguyên được tái lập ngày 01/01/1997, có diện tích 3.562,82 km², tiếp giáp Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Giang và Hà Nội. Tỉnh có 09 đơn vị hành chính gồm 2 thành phố (Thái Nguyên, Sông Công), 1 thị xã (Phổ Yên) và 6 huyện (Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương) với 180 xã, phường, thị trấn (140 xã, 30 phường, 10 thị trấn; gồm 3.032 thôn, bản, tổ dân phố). Toàn tỉnh có 124 xã, thị trấn miền núi, vùng cao với 1.985 thôn, bản có người dân tộc thiểu số.
Dân số toàn tỉnh gần 1,2 triệu người với 45 dân tộc anh em. Số liệu điều tra ngày 01/7/2015 cho thấy đồng bào dân tộc thiểu số có 339.036 người (chiếm 28% dân số toàn tỉnh). Cơ cấu các dân tộc thiểu số chủ yếu được thể hiện tại bảng sau:
| Dân tộc thiểu số |
Số dân (người) |
Tỷ lệ trong tổng dân số (%) |
Địa bàn cư trú chủ yếu |
| Tày |
123.197 |
10,95 |
Định Hóa, Võ Nhai, các huyện miền núi |
| Nùng |
63.134 |
3,49 |
Định Hóa, Võ Nhai, Đồng Hỷ |
| Sán Chay |
32.483 |
2,74 |
Phú Lương, Đại Từ, Định Hóa |
| Dao |
25.360 |
2,00 |
Võ Nhai, Đồng Hỷ, Định Hóa, Phú Lương |
| Mông |
7.230 |
0,48 |
Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Lương, Định Hóa |
| Hoa |
2.064 |
- |
Rải rác tại các huyện, thành phố |
| Mường |
1.687 |
- |
Rải rác tại các địa phương |
| Thái |
928 |
- |
Rải rác tại các địa phương |
Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 13,1%, GDP bình quân đầu người năm 2017 đạt 68 triệu đồng, thu ngân sách đạt 12.643 tỷ đồng, xuất khẩu đạt 23,563 tỷ USD, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 9% (riêng 124 xã miền núi hộ nghèo chiếm 16,24% với 31.596 hộ).
Chương 1 đi sâu khảo cứu hai tộc người có sự chuyển đổi tôn giáo mạnh mẽ:
- Dân tộc Mông: Dân số tăng nhanh do di cư lịch sử từ biên giới phía Bắc (năm 1979 có 644 người; năm 1989 có 2.264 người; năm 1999 có 4.831 người; đến năm 2017 đạt 7.230 người). Cư trú tại 35 xóm, bản (13 xóm thuần Mông, 22 xóm xen kẽ). Tín ngưỡng truyền thống gồm thờ cúng tổ tiên (bàn thờ Cungv Pox Ziês dán giấy bản đỏ tại gian giữa), thần nhà, thần cửa, saman giáo, các kiêng kỵ dòng họ ("cùng ma"). Đời sống kinh tế khó khăn (hơn 40% hộ nghèo, 10% thiếu ăn), tập tục tang ma phức tạp, tốn kém là nguyên nhân khiến đa số người Mông từ bỏ tín ngưỡng cổ truyền chuyển sang đạo Tin lành hoặc tham gia tổ chức Dương Văn Mình.
- Dân tộc Dao: Gồm 25.360 người, cư trú tại 172 xóm, bản thuộc 69 xã, thị trấn (57 xóm thuần Dao), gồm 3 nhóm: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang. Tín ngưỡng cổ truyền thờ Bàn Vương (Chẩu Đàng) với lễ cúng lớn Chấu Tồm Đàng (gồm 3 bước: Niếu cán, Pìa miến, Phúng miến mùa) và nghi lễ cấp sắc (thành đinh, lập tĩnh). Sự suy thoái và tốn kém của tập tục cũ cũng tạo điều kiện để đạo Tin lành thâm nhập vào cộng đồng người Dao.
Chương 2: Đời sống tôn giáo và đặc điểm đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên
Chương 2 phân tích diện mạo đời sống của từng tôn giáo cụ thể (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, hiện tượng tôn giáo mới) theo 3 trục: cộng đồng, niềm tin và thực hành niềm tin; từ đó rút ra các đặc điểm căn bản.
Đối với Phật giáo:
- Lịch sử du nhập từ thời Trần (năm 1280 khi Trần Nhật Duật làm Trấn thủ đạo Đà Giang), trải qua thăng trầm thời Lê, phục hồi thời Mạc, Nguyễn và suy thoái trong chiến tranh. Sau năm 1986, Phật giáo phục hồi mạnh mẽ.
- Tổ chức giáo hội: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thái Nguyên được thành lập năm 2005. Tính đến năm 2017, Giáo hội đã trải qua 04 kỳ đại hội: Đại hội I (2005 - 2007); Đại hội II (2007 - 2012) suy cử 16 ủy viên do Đại đức Thích Nguyên Thành làm Trưởng ban; Đại hội III (2012 - 2017) gồm 30 ủy viên; Đại hội IV (2017 - 2022) gồm 41 ủy viên (11 thường trực) do Thượng tọa Thích Nguyên Thành làm Trưởng ban. Ban Trị sự có 09 ban chuyên môn trực thuộc; cấp huyện chưa thành lập được Ban Trị sự.
- Thiết chế cơ sở: 100% ngôi chùa chưa có sư trụ trì đã thành lập Ban Hộ tự. Địa phương có Đạo tràng Pháp Hoa với 200 tín đồ (do Đại đức Thích Đạo Quảng lập), các hội Phật tử (Phúc Thiện, Tâm Phúc, Tu an lạc, CLB Thanh Thiếu niên Phật tử) quy tụ 1.845 thành viên, cùng khoảng 1.000 người sinh hoạt tự phát tại tư gia, tịnh thất ở Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương, TP. Thái Nguyên.
- Sự biến động số lượng chức sắc, chức việc và tín đồ Phật giáo được tổng hợp qua bảng số liệu sau:
| Tiêu chí |
Năm 2003 |
Năm 2013 |
Tháng 4/2017 |
Tỷ lệ tăng trưởng |
| Chức sắc (người) |
01 |
- |
52 (31 tăng, 21 ni) |
Tăng 51 vị (98% đến từ tỉnh ngoài) |
| Chức việc (người) |
667 |
- |
898 |
Tăng 34,63% |
| Tín đồ quy y (người) |
21.200 |
73.826 |
Trên 84.000 |
Tăng hơn 296% so với 2003 (~7% dân số tỉnh) |
| Tín đồ là DTTS (người) |
750 (chiếm 3,53%) |
3.282 (chiếm 4,44%) |
- |
Tăng mạnh qua các năm |
Về trình độ học vấn chức sắc Phật giáo năm 2017: 19 vị có trình độ đại học (36%), 14 vị trình độ cao đẳng (27%), 15 vị trình độ trung cấp (29%) và 4 vị sơ cấp (8%). Về cơ cấu tín đồ (theo điều tra năm 2009): 65,21% là nữ, 34,79% là nam; 51,58% cư trú ở nông thôn, 48,42% ở thành thị.
Đối với các tôn giáo khác và hiện tượng tôn giáo mới:
- Công giáo và Tin lành hoạt động đan xen, phát triển cơ sở thờ tự và điểm nhóm. Đồng bào Công giáo tham gia phong trào thi đua yêu nước theo Thư chung 1980. Đạo Tin lành phát triển nhanh trong vùng đồng bào Mông, Dao.
- Hiện tượng tôn giáo mới: Xuất hiện các nhóm như tổ chức Dương Văn Mình trong người Mông, Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ, các nhóm tâm linh tín ngưỡng Hồ Chí Minh, Long Hoa Di Lặc, Chân không, Con Rồng cháu Tiên, Thanh Hải Vô thượng sư, Pháp môn Diệu âm.
Luận án đúc kết 4 đặc điểm cơ bản của đời sống tôn giáo tại Thái Nguyên:
- Cộng đồng tôn giáo đa số hình thành từ quá trình di dân lịch sử (người Kinh miền xuôi lên khai hoang, người Mông, Dao từ biên giới phía Bắc di cư xuống).
- Các nhóm tôn giáo mới đang trong quá trình hình thành, biến động mạnh mẽ về niềm tin và tổ chức.
- Cơ cấu tộc người và thành phần xã hội tham gia sinh hoạt tôn giáo rất đa dạng, gắn với địa bàn cư trú phân tán giữa miền núi và đô thị.
- Các tổ chức tôn giáo có xu hướng đẩy mạnh hoạt động truyền đạo, củng cố tổ chức giáo hội và tích cực mở rộng, xây dựng cơ sở thờ tự vật chất.
Chương 3: Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay - những vấn đề đặt ra
Chương 3 khảo sát thực trạng quản lý nhà nước giai đoạn 1990 - 2017, chỉ rõ các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân:
- Kết quả đạt được: Hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đã quán triệt và triển khai các chủ trương của Đảng, Pháp lệnh năm 2004 và Luật năm 2016; bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo (Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo tỉnh, cán bộ phụ trách cấp huyện, xã) được củng cố; các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo chính đáng, lễ trọng, đại hội giáo hội được hướng dẫn thực hiện đúng pháp luật; chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào có đạo, vùng dân tộc thiểu số được triển khai đồng bộ.
- Những hạn chế và vấn đề đặt ra:
- Tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai và xây dựng: Hiện tượng lấn chiếm, tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, xây dựng, cơi nới nơi thờ tự trái phép chưa được xử lý dứt điểm; nổi bật là các tranh chấp, khiếu kiện phức tạp liên quan đến đất đai tôn giáo như vụ việc nhà thờ xứ Thái Nguyên.
- Quản lý chức sắc và điểm nhóm: Một số tăng ni từ các tỉnh khác đến tạm trú, hành đạo nhưng không thông qua Giáo hội và cơ quan quản lý nhà nước; các điểm nhóm sinh hoạt Tin lành tư gia tự phát phát triển nhanh, gây khó khăn cho việc kiểm soát an ninh trật tự.
- Quản lý hiện tượng tôn giáo mới: Sự hoạt động mang tính chất trục lợi, mê tín hoặc phá vỡ văn hóa truyền thống của các nhóm như tổ chức Dương Văn Mình (tuyên truyền dỡ bỏ bàn thờ, làm nhà tang lễ riêng), Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ hoạt động lén lút nhưng chính quyền cơ sở thiếu chế tài xử lý hữu hiệu.
- Đội ngũ cán bộ: Trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ tôn giáo học của cán bộ cấp xã, huyện chưa đồng đều; sự phối hợp liên ngành giữa Nội vụ, Công an, Tài nguyên - Môi trường, Xây dựng đôi lúc còn chậm trễ, lúng túng.
Chương 4: Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay
Chương này đưa ra dự báo xu hướng tôn giáo và hệ thống giải pháp, khuyến nghị:
- Dự báo: Đời sống tôn giáo tại Thái Nguyên tiếp tục phát triển đan xen; nhu cầu hợp thức hóa đất đai, cơ sở thờ tự gia tăng; các hiện tượng tôn giáo mới tiếp tục biến tướng phức tạp; việc truyền đạo qua mạng xã hội và lợi dụng tôn giáo vào mục đích tiêu cực vẫn tiềm ẩn rủi ro đối với an ninh trật tự.
- Các nhóm giải pháp đề xuất:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cho cả hệ thống chính trị, chức sắc và quần chúng tín đồ.
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và phân cấp quản lý rõ ràng giữa các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã trong giải quyết các vụ việc tôn giáo phát sinh.
- Tập trung giải quyết dứt điểm các vướng mắc về đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp phép xây dựng cơ sở thờ tự cho các tổ chức tôn giáo hợp pháp theo đúng quy định.
- Nâng cao năng lực chuyên môn, tính chuyên nghiệp và bồi dưỡng kiến thức tôn giáo học, kỹ năng quản trị hành chính công cho đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các cấp.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo (người Mông, Dao); chủ động đấu tranh, ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo truyền đạo trái phép hoặc xâm phạm an ninh trật tự.
- Khuyến nghị: Đề xuất Trung ương sớm ban hành văn bản hướng dẫn xử lý các hiện tượng tôn giáo mới; đề nghị Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thái Nguyên bố trí nguồn lực ngân sách cho đào tạo cán bộ và quy hoạch quỹ đất dành riêng cho nhu cầu tôn giáo chính đáng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ lý luận về đời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo tại một địa bàn trung du miền núi đặc thù, đa dân tộc, đa tôn giáo; vận dụng tích hợp và kiểm chứng các lý thuyết thực thể tôn giáo, cấu trúc - chức năng, xung đột và khoa học quản lý trong nghiên cứu thực chứng.
Về mặt thực tiễn, luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận toàn diện, hệ thống về đời sống của cả 4 loại hình tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, hiện tượng tôn giáo mới) tại Thái Nguyên từ năm 1990 đến năm 2017. Luận án làm rõ những chuyển biến cụ thể về quy mô tổ chức, sự gia tăng chức sắc, tín đồ, sự chuyển đổi đức tin trong đồng bào dân tộc Mông, Dao; chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến vướng mắc trong quản lý đất đai và xử lý điểm nóng tôn giáo.
Hệ thống giải pháp và khuyến nghị do luận án xây dựng cung cấp các luận cứ khoa học tin cậy, hỗ trợ trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách, chính quyền tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan quản lý chuyên ngành hoàn thiện thể chế quản lý, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát phạm vi không gian tỉnh Thái Nguyên với nguồn số liệu thực chứng kết thúc vào giai đoạn 2017 - đầu năm 2018 (thời điểm Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018). Do tính chất phức tạp và khép kín của một số hiện tượng tôn giáo mới, số liệu khảo sát về nhóm này chủ yếu dựa trên báo cáo quản lý hành chính của các cơ quan chức năng.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, đề tài gợi mở việc theo dõi, đánh giá tác động thực tế của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đối với sinh hoạt tôn giáo tại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc; nghiên cứu sâu về sự biến đổi văn hóa tộc người của người Mông, người Dao sau khi theo đạo Tin lành hoặc tham gia tổ chức Dương Văn Mình; và nghiên cứu so sánh mô hình quản lý tôn giáo giữa các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Tôn giáo học, Xã hội học, Nhân học, Dân tộc học và Quản lý công; đặc biệt là khung lý thuyết thực thể tôn giáo và phương pháp khảo cứu đời sống tôn giáo địa phương tại Chương 1 và Chương 2.
- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức làm công tác tôn giáo, công tác dân tộc, cán bộ quản lý hành chính nhà nước tại các sở, ban, ngành tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc trong việc tham khảo các bài học xử lý khiếu kiện đất đai, đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tập trung và nhận diện hiện tượng tôn giáo mới tại Chương 3 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện diện những tôn giáo và hiện tượng tôn giáo mới cụ thể nào?
Luận án xác định trên địa bàn tỉnh có 03 tôn giáo đã được công nhận gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành với khoảng 120.000 tín đồ; cùng sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới như tổ chức Dương Văn Mình, Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ, các nhóm tâm linh tín ngưỡng Hồ Chí Minh, Long Hoa Di Lặc, Chân không, Con Rồng cháu Tiên, Thanh Hải Vô thượng sư, Pháp môn Diệu âm.
2. Tình hình phát triển chức sắc, chức việc và tín đồ Phật giáo tại Thái Nguyên giai đoạn 2003 - 2017 có biến động ra sao?
Theo số liệu trong luận án, năm 2003 toàn tỉnh chỉ có 01 chức sắc và 667 chức việc, với 21.200 phật tử quy y. Đến tháng 4/2017, số lượng chức sắc tăng lên 52 vị (31 tăng, 21 ni), chức việc tăng lên 898 người, và số lượng phật tử quy y đạt trên 84.000 người (chiếm khoảng 7% dân số toàn tỉnh, tăng hơn 296% so với năm 2003).
3. Sự chuyển đổi tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số Mông và Dao tại Thái Nguyên diễn ra như thế nào?
Trong nhiều thập kỷ gần đây, tín ngưỡng cổ truyền đa thần (thờ cúng tổ tiên, thần nhà, saman giáo của người Mông; lễ cúng Bàn Vương, cấp sắc của người Dao) bộc lộ sự khủng hoảng, tốn kém tiền bạc và hủ tục nặng nề. Do đó, một bộ phận lớn người Mông và người Dao đã từ bỏ tín ngưỡng truyền thống để chuyển sang theo đạo Tin lành hoặc tham gia tổ chức Dương Văn Mình (đối với người Mông).
4. Vấn đề hạn chế nổi cộm nhất trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo tại Thái Nguyên được luận án chỉ ra là gì?
Hạn chế nổi cộm là tình trạng vi phạm quy định về đất đai tôn giáo (lấn chiếm, chuyển đổi mục đích, cơi nới cơ sở thờ tự trái phép dẫn đến khiếu kiện phức tạp như vụ việc nhà thờ xứ Thái Nguyên); việc sinh hoạt tôn giáo tập trung theo điểm nhóm Tin lành chưa đúng quy định; các hiện tượng tôn giáo mới hoạt động không phép nhưng thiếu chế tài xử lý; và năng lực tham mưu của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế.
5. Bốn khung lý thuyết khoa học được tác giả tích hợp trong nghiên cứu là gì?
Tác giả sử dụng kết hợp 4 lý thuyết: Lý thuyết thực thể tôn giáo (nghiên cứu niềm tin, giáo lý, thực hành, cộng đồng); Lý thuyết cấu trúc - chức năng (phân tích sự tương tác giữa các bộ phận trong hệ thống tôn giáo và xã hội); Lý thuyết xung đột (nhận diện mâu thuẫn giữa giáo luật và pháp luật hoặc văn hóa truyền thống); Lý thuyết khoa học quản lý (tiếp cận quản lý nhà nước theo chủ thể, khách thể và nội dung quản lý theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Mạnh Anh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về đời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo tại tỉnh Thái Nguyên từ năm 1990 đến năm 2017. Thông qua việc vận dụng các khung lý thuyết Tôn giáo học và phương pháp khảo sát liên ngành, tác giả đã làm rõ diện mạo, đặc điểm biến đổi của Phật giáo, Công giáo, Tin lành và các hiện tượng tôn giáo mới gắn với bối cảnh cư dân đa tộc người. Công trình chỉ rõ những thành tựu cùng các bất cập tồn tại trong quản lý hành chính, đất đai, điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị khoa học có giá trị ứng dụng thiết thực đối với công tác tôn giáo tại địa phương.