Quản Lý Nhà Nước Về Giảm Nghèo Bền Vững Đối Với Đồng Bào M'Nông Tại Đắk Nông

Luận văn phân tích quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Nông, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2018

112
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.2. Những vấn đề lý luận chung

1.3. Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

1.4. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

1.5. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO M’NÔNG TỈNH ĐẮK NÔNG

2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội địa phương ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

2.2. Kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào M’Nông trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

2.4. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO M’NÔNG TỈNH ĐẮK NÔNG

3.1. Quan điểm, định hướng

3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào M’Nông tỉnh Đắk Nông đến năm 2020

3.3. Tiểu kết

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý Nhà Nước Về Giảm Nghèo Bền Vững

Vấn đề nghèo đói là một thách thức toàn cầu, ảnh hưởng đến mọi quốc gia, không chỉ các nước đang phát triển. Giải quyết nghèo đói là tiền đề để đạt được các mục tiêu về hòa bình, ổn định và công bằng xã hội. Đặc biệt, ở các quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) là một ưu tiên hàng đầu. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao so với khu vực và thế giới, đặc biệt ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, nơi có đông đồng bào DTTS. Do đó, quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào DTTS là một nhiệm vụ cấp bách. Theo Tiến sỹ Trần Thị Hằng giảm nghèo được định nghĩa như sau: “Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo và biểu hiện của giảm nghèo thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống.

1.1. Khái Niệm Nghèo và Đói Sự Khác Biệt Cần Biết

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn so với mức sống trung bình của cộng đồng. Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo về nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Hiện nay tình trạng đói hầu như đã không còn nhắc tới trong các văn kiện chính thức của Đảng. Mặc dù vậy cụm từ “xóa đói giảm nghèo” vẫn được sử dụng, để chỉ một nội dung hẹp hơn là đấu tranh để “giảm nghèo bền vững” tiến tới “xóa nghèo”.

1.2. Giảm Nghèo Bền Vững Mục Tiêu và Ý Nghĩa Thực Tiễn

Giảm nghèo bền vững không chỉ là nâng cao thu nhập mà còn là đảm bảo khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh môi trường. Nó cũng bao gồm việc bảo vệ văn hóa truyền thống và tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình phát triển. Giảm nghèo bền vững đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội và cộng đồng địa phương.

1.3. Quản Lý Nhà Nước Về Giảm Nghèo Vai Trò và Chức Năng

Quản lý nhà nước về giảm nghèo bao gồm việc xây dựng và thực thi các chính sách giảm nghèo, phân bổ nguồn lực, giám sát và đánh giá hiệu quả của các chương trình, dự án. Nó cũng bao gồm việc tạo môi trường thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các cơ hội kinh tế và xã hội. Vai trò của chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo các chính sách giảm nghèo được thực hiện hiệu quả và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương.

II. Thách Thức Quản Lý Giảm Nghèo Cho Đồng Bào M Nông

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, công tác giảm nghèo cho đồng bào M'Nông tại Đắk Nông vẫn còn nhiều thách thức. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào M'Nông vẫn còn cao hơn so với các dân tộc khác. Các yếu tố như trình độ dân trí thấp, thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, và các hủ tục lạc hậu cản trở quá trình giảm nghèo. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo còn nhiều hạn chế, như chính sách chưa phù hợp, nguồn lực phân bổ chưa hiệu quả, và thiếu sự tham gia của người dân.

2.1. Rào Cản Kinh Tế Thiếu Đất Vốn và Cơ Hội Việc Làm

Tình trạng thiếu đất sản xuất, thiếu vốn đầu tư và thiếu cơ hội việc làm là những rào cản lớn đối với giảm nghèo cho đồng bào M'Nông. Nhiều hộ gia đình không có đủ đất để canh tác, hoặc đất đai bị thoái hóa, năng suất thấp. Khả năng tiếp cận vốn vay ưu đãi còn hạn chế, và các chương trình khuyến nông khuyến lâm chưa thực sự hiệu quả. Việc tạo ra các cơ hội việc làm tại chỗ, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch cộng đồngphát triển nông nghiệp, là rất quan trọng.

2.2. Rào Cản Xã Hội Trình Độ Dân Trí và Hủ Tục Lạc Hậu

Trình độ dân trí thấp và các hủ tục lạc hậu cũng là những yếu tố cản trở giảm nghèo. Tỷ lệ người biết chữ còn thấp, đặc biệt là phụ nữ. Các hủ tục như tảo hôn, sinh nhiều con, và các tập quán canh tác lạc hậu ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế và sự phát triển của cộng đồng. Cần tăng cường công tác giáo dục cho đồng bào M'Nông, nâng cao nhận thức về các vấn đề xã hội, và khuyến khích thay đổi hành vi.

2.3. Hạn Chế Trong Quản Lý Nhà Nước Chính Sách và Nguồn Lực

Công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo còn nhiều hạn chế. Các chính sách giảm nghèo chưa thực sự phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của đồng bào M'Nông. Nguồn lực phân bổ còn dàn trải, thiếu trọng tâm, và chưa phát huy được hiệu quả. Cơ chế giám sát và đánh giá còn yếu, dẫn đến tình trạng lãng phí và thất thoát. Cần hoàn thiện chính sách, tăng cường nguồn lực đầu tư, và nâng cao năng lực quản lý của cán bộ.

III. Giải Pháp Quản Lý Nhà Nước Giảm Nghèo Bền Vững M Nông

Để tăng cường quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững cho đồng bào M'Nông tại Đắk Nông, cần có một giải pháp toàn diện, bao gồm việc hoàn thiện chính sách, tăng cường nguồn lực, nâng cao năng lực quản lý, và tăng cường sự tham gia của người dân. Cần tập trung vào các giải pháp phát triển kinh tế, xã hội, bảo tồn văn hóa, và bảo vệ môi trường.

3.1. Hoàn Thiện Chính Sách Đặc Thù và Phù Hợp Với M Nông

Cần rà soát và hoàn thiện các chính sách giảm nghèo, đảm bảo tính đặc thù và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của đồng bào M'Nông. Cần có các chính sách đặc thù về đất đai, vốn, giáo dục, y tế, và bảo tồn văn hóa. Các chính sách cần được xây dựng dựa trên kết quả tham vấn cộng đồng và có sự tham gia của người dân.

3.2. Tăng Cường Nguồn Lực Đầu Tư và Sử Dụng Hiệu Quả

Cần tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác giảm nghèo, bao gồm ngân sách nhà nước, vốn vay ưu đãi, và nguồn lực từ các tổ chức xã hội. Cần sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả, tránh lãng phí và thất thoát. Cần tăng cường công tác giám sát và đánh giá để đảm bảo nguồn lực được sử dụng đúng mục đích.

3.3. Nâng Cao Năng Lực Quản Lý Cán Bộ và Cơ Chế Phối Hợp

Cần nâng cao năng lực quản lý của cán bộ làm công tác giảm nghèo, đặc biệt là cán bộ cấp xã. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho cán bộ. Cần xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cấp chính quyền, các sở, ban, ngành, và các tổ chức xã hội. Cần tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong công tác quản lý.

IV. Phát Triển Kinh Tế Bền Vững Cho Đồng Bào M Nông

Phát triển kinh tế là yếu tố then chốt để giảm nghèo bền vững cho đồng bào M'Nông. Cần tập trung vào các giải pháp phát triển nông nghiệp, du lịch cộng đồng, và tiểu thủ công nghiệp. Cần tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các cơ hội kinh tế, nâng cao thu nhập, và cải thiện đời sống.

4.1. Phát Triển Nông Nghiệp Nâng Cao Năng Suất và Giá Trị Gia Tăng

Cần phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Cần khuyến khích người dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt. Cần xây dựng các chuỗi giá trị liên kết sản xuất, chế biến, và tiêu thụ sản phẩm. Cần hỗ trợ người dân tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm.

4.2. Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Khai Thác Văn Hóa và Tài Nguyên

Cần phát triển du lịch cộng đồng gắn với khai thác văn hóa truyền thốngtài nguyên thiên nhiên của đồng bào M'Nông. Cần xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn, và mang đậm bản sắc văn hóa. Cần đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng làm du lịch cho người dân. Cần bảo vệ môi trườngbảo tồn văn hóa để phát triển du lịch bền vững.

4.3. Phát Triển Tiểu Thủ Công Nghiệp Tạo Việc Làm và Thu Nhập

Cần phát triển tiểu thủ công nghiệp để tạo việc làm và thu nhập cho đồng bào M'Nông. Cần khuyến khích người dân phát triển các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát, và chế tác đồ thủ công mỹ nghệ. Cần hỗ trợ người dân tiếp cận vốn, công nghệ, và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

V. Bảo Tồn Văn Hóa và Phát Triển Xã Hội Cho M Nông

Bên cạnh phát triển kinh tế, cần chú trọng bảo tồn văn hóa và phát triển xã hội cho đồng bào M'Nông. Cần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện sức khỏe, và đảm bảo an sinh xã hội.

5.1. Bảo Tồn Văn Hóa Ngôn Ngữ Nghệ Thuật và Lễ Hội Truyền Thống

Cần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào M'Nông, bao gồm ngôn ngữ, nghệ thuật, và lễ hội truyền thống. Cần khuyến khích người dân sử dụng ngôn ngữ của mình, truyền dạy các nghề truyền thống, và tổ chức các lễ hội để quảng bá văn hóa.

5.2. Nâng Cao Trình Độ Dân Trí Giáo Dục và Đào Tạo Nghề

Cần nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào M'Nông thông qua giáo dụcđào tạo nghề. Cần tăng cường đầu tư cho giáo dục, xây dựng trường lớp, và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Cần tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các chương trình đào tạo nghề, giúp họ có kỹ năng để tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm.

5.3. Cải Thiện Sức Khỏe và An Sinh Xã Hội Y Tế và Bảo Hiểm

Cần cải thiện sức khỏe và đảm bảo an sinh xã hội cho đồng bào M'Nông. Cần tăng cường đầu tư cho y tế, xây dựng trạm xá, và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Cần khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm y tếbảo hiểm xã hội để được bảo vệ khi gặp rủi ro.

VI. Giám Sát và Đánh Giá Hiệu Quả Giảm Nghèo Bền Vững

Công tác giám sát và đánh giá là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả của các chương trình, dự án giảm nghèo. Cần xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá chặt chẽ, minh bạch, và có sự tham gia của người dân. Cần đánh giá định kỳ và đột xuất để phát hiện các vấn đề và có giải pháp khắc phục kịp thời.

6.1. Xây Dựng Cơ Chế Giám Sát Minh Bạch và Tham Gia

Cần xây dựng cơ chế giám sát minh bạch, có sự tham gia của người dân, các tổ chức xã hội, và các cơ quan truyền thông. Cần công khai thông tin về các chương trình, dự án giảm nghèo, và tạo điều kiện cho người dân phản ánh ý kiến, kiến nghị.

6.2. Đánh Giá Định Kỳ và Đột Xuất Phát Hiện Vấn Đề

Cần đánh giá định kỳ và đột xuất để phát hiện các vấn đề và có giải pháp khắc phục kịp thời. Cần đánh giá hiệu quả của các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo, và xác định các yếu tố thành công và thất bại.

6.3. Sử Dụng Kết Quả Đánh Giá Cải Thiện Chính Sách và Quản Lý

Cần sử dụng kết quả đánh giá để cải thiện chính sáchquản lý. Cần điều chỉnh các chính sách không phù hợp, và tăng cường các giải pháp hiệu quả. Cần nâng cao năng lực quản lý của cán bộ, và tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan.

04/06/2025
Luận văn quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào m nông trên địa bàn tỉnh đắk nông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững. Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào M’Nông tỉnh Đắk Nông. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào M’Nông tỉnh Đắk Nông.

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Những vấn đề lý luận chung 1. Nghèo và giảm nghèo bền vững Đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu. Nếu vấn đề nghèo đói không giải quyết được thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, quốc gia đặt ra như hòa bình, ổn định, công bằng xã hội… có thể giải quyết được.

Đã có rất nhiều định nghĩa về nghèo đói được đưa ra, tùy theo từng vùng, từng quốc gia, quan niệm về nghèo đói có một vài sự khác biệt. Nhưng nhìn chung tiêu chí chủ yếu được dùng để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục và giao tiếp xã hội, và quan điểm về đói nghèo luôn mang tính động, nó tùy thuộc vào tính chất không gian, thời gian, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương hay từng quốc gia. Được đánh giá là một trong những quốc gia đạt nhiều thành tích trong chiến lược tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, tuy nhiên hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ hộ nghèo cao so với khu vực và thế giới, nhất là tình trạng nghèo đói ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Do đó giải quyết vấn đề nghèo đói nói chung và giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng luôn là một nội dung có tính thời sự và là yêu cầu cấp bách.

Nghèo đói là do con người thất bại trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực như: lao động, đất đai, vốn… để tạo ra hàng hóa. Trong nhận thức của người Việt Nam, khi đề cập đến khái niệm đói nghèo, mọi người đều hiểu đó là tình trạng người dân cơm không đủ ăn, áo 10 không đủ mặc, con cái không được học hành, đau ốm không có tiền chữa bệnh, nhà cửa dột nát, tạm bợ…Điểm khác biệt ở Việt Nam so với các nước khác là đói và nghèo thường được hiểu thành hai khái niệm riêng biệt, ngoài khái niệm “nghèo” chúng ta còn sử dụng khái niệm “đói” để phân biệt mức độ nghèo của một bộ phận dân cư: - “Nghèo” là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn so với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện[16, tr 21]. Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, không có phần tích lũy và họ không thể vươn tới các nhu cầu văn hóa – tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất để ưu tiên cho mưu sinh hằng ngày, như tình trạng trẻ em thất học, nạn mù chữ, hạn chế về tiếp cận thông tin, nhà ở tạm bợ… - Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo về nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống, những hộ đói thường thiếu ăn, đứt bữa từ 01 đến 03 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng trả nợ [16, tr 22]. Hiện nay tình trạng đói hầu như đã không còn nhắc tới trong các văn kiện chính thức của Đảng.

Mặc dù vậy cụm từ “xóa đói giảm nghèo” vẫn được sử dụng, để chỉ một nội dung hẹp hơn là đấu tranh để “giảm nghèo bền vững” tiến tới “xóa nghèo”. “Giảm nghèo” chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo và biểu hiện của giảm nghèo thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Theo Tiến sỹ Trần Thị Hằng giảm nghèo được định nghĩa như sau: “Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng 11 bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống” [17, tr 33].

Trong nội dung nghiên cứu của đề tài khái niệm giảm nghèo được tác giả hiểu và triển khai theo định nghĩa nêu trên. Thuật ngữ “Giảm nghèo bền vững” bắt đầu được sử dụng chính thức trong văn bản của Nhà nước ta tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, và tiếp đến là các văn bản khác của Nhà nước về giảm nghèo bền vững đã được ban hành cũng đã sử dụng thuật ngữ “giảm nghèo bền vững” như Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1722/QĐ- TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ, về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020. Cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững, về cơ bản để giải quyết giảm nghèo cần phải đảm bảo hai mặt: giảm nghèo cả về số lượng và chất lượng. Số lượng giảm nghèo sẽ là số hộ nghèo giảm được trong một thời gian nhất định, còn chất lượng giảm nghèo là khái niệm dùng để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo được nâng lên, khi gặp rủi ro, biến cố sẽ không rơi lại vào tình trạng tái nghèo, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo chính là phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo.

Như vậy nên hiểu giảm nghèo bền vững chính là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên chuẩn nghèo đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro, là đảm bảo duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài và bền vững, tránh tình trạng “nghèo – thoát nghèo – tái nghèo”. Chuẩn nghèo đơn chiều và chuẩn nghèo đa chiều. Xác định được mức độ giàu nghèo là một việc không dễ dàng vì nó gắn với từng thời kỳ, từng quốc gia và được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau. Ở Việt Nam, kể từ khi có chủ trương xóa đói giảm nghèo, các cơ quan trong nước và quốc tế cũng đã đưa ra những chuẩn mực để xác định tình hình nghèo đói làm cơ sở cho việc xây dựng các Chương trình xóa đói giảm nghèo phù hợp với tập quán và mức sống của người dân.

Chuẩn nghèo là thước đo nhằm xác định ai là người nghèo hoặc không nghèo để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước, nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo. Ở Việt Nam, căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đến nay nước ta đã qua 7 lần điều chỉnh chuẩn nghèo theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nghèo. Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia: Chuẩn nghèo 1993-1995 : + Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy theo gạo/tháng dưới 13kg đối với thành thị, dưới 8kg đối với khu vực nông thôn. + Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy theo gạo/tháng dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn.

Chuẩn nghèo 1995-1997 : - Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tính cho mọi vùng. - Hộ nghèo: là hộ có thu nhập: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng. + Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng. + Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng.

13 Chuẩn nghèo 1997-2000: - Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tương đương 45 ngàn đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng). - Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55 ngàn đồng). + Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70 ngàn đồng). + Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn đồng).

Chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng. + Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng. + Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng. Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010:(Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005) quy định những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo: + Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn là dưới 200.000 đồng/người/tháng.

+ Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị là dưới 260.000đồng/người/tháng. Chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015: (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011) có quy định như sau : - Hộ nghèo: 14 + Vùng nông thôn: có mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống. + Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống. - Hộ cận nghèo: + Vùng nông thôn: có mức thu nhập từ 401.000 đồng/người/tháng.

+ Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 501.000 đồng/người/tháng. Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020: (Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015) quy định về các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Về tiêu chí về thu nhập, chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 900.000 đồng/người/tháng; chuẩn cận nghèo ở khu vực nông thôn là 1.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 1.000 đồng/người/tháng.

Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Gồm 5 dịch vụ xã hội cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Quản Lý Nhà Nước Về Giảm Nghèo Bền Vững Đối Với Đồng Bào M'Nông Tại Đắk Nông" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách và biện pháp của nhà nước nhằm giảm nghèo bền vững cho cộng đồng dân tộc M'Nông tại Đắk Nông. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý hiệu quả các nguồn lực và chương trình hỗ trợ, từ đó giúp cải thiện đời sống và phát triển kinh tế cho người dân. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức triển khai các chính sách giảm nghèo, cũng như những thách thức và cơ hội trong quá trình thực hiện.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Chính sách giảm nghèo bền vững đối với dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư Kuin tỉnh Đắk Lắk", nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các chính sách tương tự ở khu vực khác. Ngoài ra, tài liệu "Giải pháp giảm nghèo bền vững cho dân tộc thiểu số tại Di Linh, Lâm Đồng" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp cụ thể được áp dụng. Cuối cùng, tài liệu "Giải pháp nâng cao quản lý quỹ vì người nghèo tại huyện Hạ Hòa, Phú Thọ" sẽ cung cấp thêm thông tin về quản lý quỹ hỗ trợ người nghèo, một khía cạnh quan trọng trong việc giảm nghèo bền vững. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách và giải pháp giảm nghèo tại Việt Nam.