Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa. 8 Luan van Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về doanh nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội. 9 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VĂN HÓA 1.1 Khái niệm doanh nghiệp văn hóa Doanh nghiệp là tên gọi của một loại hình tổ chức trong xã hội được hình thành và hoạt động hướng tới mục đích lợi nhuận nhất định.
Đa phần các quan điểm trong nước và ngoài nước đều có ý ngh a tương đồng với nhau, sau đây là một số quan điểm phổ biến: Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Doanh nghiệp hay đúng ra là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Theo Luật Công ty năm 1990 thì Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh. Và “kinh doanh” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Theo Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1991 thì Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 thay thế thì Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. 10 Luan van Và mới đây nhất, theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy, Doanh nghiệp văn hóa là những doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh trong lĩnh vực văn hóa.2 Các loại hình doanh nghiệp văn hóa L nh vực văn hóa là một l nh vực rộng lớn. Do đó việc phân loại các doanh nghiệp văn hóa khá phức tạp.
Tuy nhiên, có thể phân loại doanh nghiệp văn hóa theo một số hình thức sau: 1.1 Ph n loại theo h nh thức pháp lý doanh nghiệp Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 thì doanh nghiệp văn hóa được chia thành 05 loại hình sau đây: a. Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh).
Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các ngh a vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. Công ty trách nhiệm hữu hạn: (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và ngh a vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các ngh a vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Doanh nghiệp Nhà nước: là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.2 Ph n loại theo lĩnh vực hoạt đ ng: Căn cứ Nghị định 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ có thể phân loại các doanh nghiệp văn hóa hoạt động theo các l nh vực như sau: - Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực nghệ thuật biểu diễn, trình diễn thời trang. - Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực xuất bản, in ấn, ấn phẩm văn hóa. - Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực quảng cáo, viết, đặt biển hiệu… - Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực lưu hành, kinh doanh băng, đ a ca nhạc, sân khấu.
- Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong l nh vực điện ảnh, phát thanh, truyền hình, ghi âm, xuất bản âm nhạc. - Nhóm doanh nghiệp kinh doanh hoạt động vũ trường, karaoke. - Nhóm doanh nghiệp kinh doanh hoạt động m thuật, triển lãm văn hóa, nhiếp ảnh, thư viện, bảo tàng, lưu trữ. - Nhóm doanh nghiệp kinh doanh hoạt động trò chơi điện tử, các dịch vụ vui chơi giải trí.3 Đặc điểm của doanh nghiệp văn hóa 12 Luan van Như đã trình bày ở trên, doanh nghiệp văn hóa được định ngh a là những doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh trong l nh vực văn hóa.
Do vậy, doanh nghiệp văn hóa mang một số đặc điểm của văn hóa, khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác, cụ thể: - Về phạm vi hoạt động: L nh vực văn hóa và một l nh vực rất rộng lớn. Do đó phạm vi hoạt động của doanh nghiệp văn hóa là rất rộng lớn, từ những ngành nghề nghệ thuật biểu diễn truyền thống như tuồng, trèo, ca múa nhạc, cải lương, kịch nói, chầu văn, các lễ hội văn hóa truyền thống, thư viện, sách, báo.cho đến những ngành nghề mới phát triển những năm gần như karaoke, vũ trường, quảng cáo, trò chơi điện tử, các dịch vụ vui chơi giải trí như công viên nước, nhà ma, các lễ hội của phương Tây. - Về khách hàng hay là đối tượng của doanh nghiệp văn hóa hướng đến: Có thể nói khách hàng của doanh nghiệp văn hóa là toàn dân. Mọi tầng lớp trong xã hội, mọi lứa tuổi đều có nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, tiêu dùng, sử dụng các sản phẩm văn hóa.
Từ trí thức, công chức, giáo viên, bác s cho đến nông dân, công nhân, mọi lứa tuổi từ già đến trẻ, người giàu, người nghèo đều có nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật. Chính vì vậy khách hàng mà doanh nghiệp văn hóa hướng đến là vô cùng đông đảo. Đây là một lợi thế lớn của doanh nghiệp văn hóa so với các doanh nghiệp khác. - Về sản phẩm của doanh nghiệp văn hóa: Sản phẩm mà doanh nghiệp văn hóa cung cấp cho xã hội vô cùng đa dạng, phong phú.
Ngoài những sản phẩm có hình thể xác định (hữu hình) như băng đ a, tranh, ảnh, sách, báo, ấn phẩm, biển hiệu quảng cáo…Doanh nghiệp văn hóa cho ra những sản phẩm phi hình thể như vở kịch, vở chèo, một bài 13 Luan van hát, ca khúc, một bộ phim, các hoạt động vui chơi giải trí, lễ hội, di sản văn hóa phi vật thể… Sản phẩm của doanh nghiệp văn hóa còn có tính đa giá trị, ngoài những giá trị về mặt kinh tế còn có giá trị về mặt xã hội (chính trị, giáo dục, ngoại giao). Ví dụ, một vở kịch ngoài những giá trị có thể xác định được như số tiền đầu tư, doanh thu đem lại, số lượng người xem…còn đem lại những giá trị nghệ thuật như quảng bá nét đẹp văn hóa của con người, đất nước tới bạn bè các nước trong khu vực và quốc tế. Hơn nữa còn đem lại giá trị về giáo dục, thông qua ngôn ngữ, nội dung, ý ngh a của vở kịch truyền tải, hướng con người tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống… 1.4 Vai trò của doanh nghiệp văn hóa đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Doanh nghiệp văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội, cụ thể: Đầu tiên, phải kể đến các loại dịch vụ mà doanh nghiệp văn hóa cung ứng trong xã hội ngày nay ngày càng phát triển đa dạng, phong phú, vừa tạo cơ hội cho người kinh doanh, lại vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ tinh thần của người dân. Hoạt động kinh doanh của dịch vụ văn hóa gắn với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường phát triển sẽ tác động làm cho các doanh nghiệp văn hóa ngày càng phát triển phong phú đa dạng. Các hoạt động này tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi của người dân. Doanh nghiệp văn hóa trong xã hội càng phát triển thì chất lượng dịch vụ văn hóa cung ứng cho nhu cầu hưởng thụ của con người càng được nâng cao. Xã hội phát triển càng cao, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người càng lớn.
Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy: trong sự tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, nếu như không đồng bộ, không cân bằng thì sẽ 14 Luan van rơi vào tình trạng khủng hoảng trong đời sông văn hoá – tinh thần của toàn xã hội. Vì vậy, phát triển đa dạng và phong phú các doanh nghiệp văn hóa cũng là một trong số những biện pháp tích cực để nâng cao đời sống tinh thần, làm cho văn hoá xâm nhập vào mọi l nh vực của đời sống xã hội, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy văn hoá phát triển. Thứ hai, doanh nghiệp văn hóa đóng góp cho sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa. Trong xã hội hiện nay, sự bùng nổ, phát triển của ngành công nghệ thông tin, điện tử đã đem lại cho các ngành khác được kế thừa những ứng dụng khoa học k thuật để đưa vào sản xuất, kinh doanh.
Các sản phẩm văn hóa ngày càng được cải thiện, nâng cao cả về số lượng, chất lượng, không chỉ đem lại cả về giá trị kinh tế mà còn đem lại hiệu ích về xã hội. Từ đó, các doanh nghiệp nâng cao được khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới.