Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý BHXH bắt buộc đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý các đối tƣợng tham gia BHXH bắt buộc đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 4: Giải pháp tăng cƣờng công tác quản lý BHXH bắt buộc đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƢ̣C TIỄN VỀ QUẢN LÝ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Cơ sở lý luâ ̣n về quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm, chức năng, vai trò, nguyên tắc của BHXH 1. Khái niệm về BHXH Chính sách an sinh xã hội và trụ cột là hệ thống BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của loài ngƣời và đã đƣợc nhiều nhà lý luận, khoa học đề cập và nghiên cứu một cách sâu sắc dƣới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau.
An sinh xã hội và mà trụ cột là chính sách Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện và phát triển theo cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội - công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nhân loại. Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì nƣớc Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) là nƣớc đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH. Đến nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đã tham gia Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và thực hiện chính sách BHXH và coi nó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội. Mặc dù đã có quá trình phát triển tƣơng đối dài, nhƣng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về BHXH, chƣa có khái niệm thống nhất, tùy từng góc độ nghiên cứu mà có các khái niệm khác nhau.
Cho đến nay chƣa có một định nghĩa thống nhất về BHXH. Bởi lẽ, BHXH là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau nhƣ kinh tế, xã hội, chính trị, pháp lý. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đƣa ra khái niệm về BHXH nhƣ sau: "BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 11 đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con". Khái niệm này đã phản ánh đƣợc sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội.
Ở góc độ kiến thức Bách khoa: BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nƣớc theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho ngƣời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Còn theo Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11, Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2006 thì: "BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết. trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH". Ở góc độ tài chính, BHXH là quá trình thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những ngƣời lao động, có sự bảo trợ của Nhà nƣớc, để sản sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trƣờng hợp cần thiết theo quy định của pháp luật.
Ở góc độ pháp luật, BHXH là một chế độ pháp lý quy định đối tƣợng, điều kiện, mức độ đảm bảo vật chất và các dịch vụ cần thiết bảo vệ ngƣời lao động và gia đình họ trong các trƣờng hợp bảo hiểm đƣợc Nhà nƣớc xác định. Nhƣ vậy, có thể khái quát về BHXH nhƣ sau: BHXH là sự đảm bảo bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập cho ngƣời lao động, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung đƣợc hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân ngƣời lao động và Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 12 những ngƣời ruột thịt (bố, mẹ, vợ/ chồng, con) của ngƣời lao động trực tiếp phải nuôi dƣỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Chức năng của BHXH Chức năng là sự khái quát của các nhiệm vụ cơ bản, là dạng hoạt động đặc trƣng và khái quát nhất của tổ chức hay cá nhân gắn với chức danh nào đó trong một hệ thống tổ chức hoạt động thuộc phạm vi nhất định trong xã hội. Do vậy, về tổng quát, BHXH có những chức năng sau: Bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động.
Bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi ngƣời lao động rơi vào các trƣờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập nhƣ ốm đau, tại nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết và hội tụ các điều kiện theo quy định. Sở dĩ nhƣ vậy là vì quan hệ giữa BHXH và ngƣời tham gia BHXH là quan hệ có đóng có hƣởng, và là mối quan hệ giữa hết sức chặt chẽ. Quan hệ này phát sinh trên cơ sở lao động và quan hệ tài chính BHXH. Quan hệ đó diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia bảo hiểm, bên nhận bảo hiểm và bên đƣợc bảo hiểm.
Bên tham gia bảo hiểm trƣớc hết là ngƣời sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng phí để bảo hiểm cho ngƣời lao động mà mình sử dụng, đồng thời ngƣời lao động cũng phải có trách nhiệm đóng phí để tự bảo hiểm cho mình. Sự đóng góp này là bắt buộc, đều kỳ và theo những mức quy định theo từng thời kỳ cho bên nhận bảo hiểm. Góp phần thực hiện công bằng xã hội, phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. BHXH là bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già, bằng cách hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung.
Qũy BHXH đƣợc tồn tích dần bởi sự đóng góp những ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động, mức sinh lời của quỹ và sự hỗ trợ của Nhà nƣớc, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 13 Nhƣ vậy theo nguyên tắc của BHXH, ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động phải đóng góp vào quỹ BHXH để bảo hiểm cho ngƣời lao động mà mình thuê sử dụng, ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động có đóng góp vào quỹ BHXH mới có quyền hƣởng trợ cấp, chế độ BHXH. Nhƣng khi còn khoẻ mạnh, có việc làm và có thu nhập ổn định nên không đƣợc hƣởng trợ cấp bảo hiểm. Số lƣợng những ngƣời không đƣợc hƣởng trợ cấp nhƣ vậy thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số ngƣời tham gia đóng góp bảo hiểm.
Chỉ những ngƣời lao động bị giảm hoặc mất thu nhập trong những trƣờng hợp xác định và có đủ các điều kiện cần thiết mới đƣợc hƣởng trợ cấp, chế độ từ quỹ BHXH. Số lƣợng những ngƣời này thƣờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong số những ngƣời tham gia đóng góp nêu trên. Nhƣ vậy, về bản chất quỹ BHXH lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những ngƣời tham gia BHXH, giữa những ngƣời khoẻ mạnh đang làm việc và có thu nhập ổn định với những ngƣời ốm yếu phải nghỉ việc và bị mất hoặc giảm thu nhập. Điều này cũng góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội.
Kích thích, khuyến khích người lao động hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng xuất lao động cá nhân và năng xuất lao động xã hội. Ngƣời lao động có việc làm khi khoẻ mạnh làm việc bình thƣờng sẽ có tiền lƣơng, tiền công, khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hoặc không may bị chết đã có BHXH đảm bảo bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập quan trọng cho cuộc sống của họ, do đó đời sống của bản thân và gia đình họ luôn luôn có chỗ dựa, luôn luôn đƣợc đảm bảo. Chính vì thế, họ sẽ gắn bó với công việc, với nơi làm việc và yên tâm, tích cực lao động sản xuất, góp phần tăng năng xuất lao động cũng nhƣ tăng hiệu quả kinh tế. Khi tăng năng xuất lao động thì họ có khả năng nhận đƣợc tiền công cao hơn, đồng nghĩa với việc tham gia BHXH với mức đóng cao hơn và sẽ đƣợc hƣởng trợ cấp, chế độ cao hơn khi không còn thu nhập.
Nói cách khác, tiền lƣơng (tiền Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 14 công) và BHXH là những động lực thúc đẩy hoạt động lao động của ngƣời lao động. Góp phần tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao động với Nhà nước và xã hội. BHXH dựa trên cơ sở đóng góp ít nhƣng đều kỳ của mọi ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động và Nhà nƣớc cho bên thứ ba là cơ quan BHXH, để tồn tích dần dần thành một quỹ BHXH tập trung, quỹ này lại huy động phần nhàn rỗi tƣơng đối vào hoạt động kinh doanh sinh lời, làm tăng thêm nguồn thu cho quỹ. Do đó, BHXH hoàn toàn có thể bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ gặp rủi ro, khó khăn theo những chế độ xác định, góp phần bảo đảm ổn định và an toàn đời sống cho ngƣời lao động và cho gia đình họ.