CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Bảo hiểm xã hội (BHXH) 1. Khái niệm về BHXH Trên thế giới, BHXH xuất hiện từ rất lâu, đã có mầm mống từ thế kỉ XIII. Đến thế kỉ XIX, xuất hiện đạo luật đầu tiên về bảo hiểm xã hội ở Đức.
Sản xuất công nghiệp phát triển đã làm cho đội ngũ những NLĐ làm thuê ngày càng đông đảo đồng thời cũng làm cho các rủi ro trong lao động tăng theo. Để bảo vệ mình, NLĐ đã đấu tranh buộc giới chủ (những người sử dụng lao động) phải cam kết bồi thường và bảo đảm an toàn thu nhập cho họ. Trong quá trình phát triển đó đã xuất hiện các tổ chức bảo hiểm xã hội chuyên nghiệp và các chế độ bảo hiểm xã hội mở rộng dần. Năm 1952, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước 192 về tiêu chuẩn tối thiểu cho một loạt trợ cấp.
Tùy theo điều kiện cụ thể mà mỗi nước quyết định áp dụng các loại trợ cấp đó. Ngoài ra, ILO cũng đã đưa ra định nghĩa về BHXH, “BHXH là sự bảo vệ của cộng đồng xã hội với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời sống của các thành và bảo đảm an toàn xã hội”. Tại Việt Nam, BHXH có mầm mống từ thế kỉ XVII dưới dạng quỹ thương, nghĩa điền và đến thế kỉ XIX đã xuất hiện các hội tương tế để giúp đỡ lẫn nhau. Ngày nay, BHXH đã trở thành một chính sách lớn được Hiến pháp thừa nhận và pháp luật cụ thể hóa.
Chính sách BHXH đã được thể chế hoá và thực hiện theo Luật. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất khi có Luật BHXH. Luật BHXH số 58/2014/QH13 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014, tại Khoản 1 Điều 3 quy định “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi e 8 họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Từ khái niệm trên có thể rút ra bản chất của BHXH như sau: - Dưới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động.
Hay nói cách khác, BHXH tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro thuộc phạm vi BHXH. - Dưới góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những NLĐ và bên sử dụng lao động xuất phát từ lợi ích chung của họ. - Dưới góc độ xã hội, BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi thu nhập của họ bị giảm hay mất. Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động ổn định trất tự xã hội.
Như vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là bộ phận cơ bản để đảm bảo an sinh xã hội của các quốc gia. Đặc điểm, vai trò, chức năng của BHXH 1. Đặc điểm Trên cơ sở khái niệm BHXH, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của BHXH như sau: - BHXH mang tính chất xã hội, phi lợi nhuận, không vì mục đích kinh doanh thu lợi nhuận mà vì mục đích phục vụ cộng đồng xã hội trên phạm vi toàn quốc, nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và nhà nước, đảm bảo cho NLĐ có khoản trợ cấp thiết yếu khi gặp rủi ro, khó khăn trong cuộc sống. - BHXH là một chính sách xã hội được luật hóa tùy theo điều kiện cụ thể của từng nước.
Điều này xuất phát từ đặc điểm của thị trường lao động, khả năng của Chính phủ trong việc đảm bảo cân đối quỹ và tổ chức thực hiện chính sách. - NLĐ tham gia BHXH và gia đình họ là những đối tượng trực tiếp được hưởng lợi từ chính sách BHXH, khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra như: bị e 9 giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do hết tuổi lao động, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… - Việc tổ chức và thực hiện được chính sách BHXH phải dựa vào một quỹ bảo hiểm do NLĐ, người SDLĐ đóng góp và có sự bảo trợ của Nhà nước. - BHXH là một hoạt động thỏa thuận và không thỏa thuận. Điều này thể hiện ở chỗ BHXH có cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
- Mục đích của BHXH là đảm bảo đời sống cho những NLĐ tham gia BHXH và gia đình họ, từ đó góp phần đảm bảo ASXH. Chính vì những yếu tố này mà BHXH được coi là một chính sách lớn của mỗi quốc gia và được Nhà nước quan tâm quản lý chặt chẽ nhằm đem lại lợi ích an sinh xã hội lớn nhất cho người dân. Vai trò Vai trò của BHXH được xem xét trên 3 gốc độ: đối với NLĐ; đối với tổ chức sử dụng lao động; đối với Nhà nước và xã hội. Đối người lao động - BHXH giúp cho NLĐ ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ.
Thật vậy, ai trong chúng ta đều biết, rủi ro là yếu tố phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên và là một tất yếu không thể tránh được cho tất cả mọi người. Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe dọa cuộc sống của mỗi người, gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội. Khi tham gia BHXH, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH nhưng khi NLĐ gặp rủi ro, bất hạnh nhờ có chính sách BHXH mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống không chỉ cho riêng NLĐ mà còn cho cả gia đình của họ. - BHXH còn tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng cho NLĐ khi đã tham gia BHXH.
Khi gặp rủi ro, ngoài sự hỗ trợ vật chất, BHXH còn là nguồn động viên tinh thần to lớn tạo tâm lý yên tâm cho NLĐ trong quá trình làm việc, tạo cho họ tin tưởng vào tương lai, từ đó góp phần vào việc tăng năng suất lao động e 10 cũng như sự nỗ lực vì sự phát triển của đơn vị họ công tác nói riêng và toàn xã hội nói chung. - BHXH giúp NLĐ chi tiêu có hiệu quả nguồn thu nhập của mình. Với đặc thù khoản tiền đóng BHXH thường được trích theo lương hàng tháng nên sẽ giúp cho NLĐ chủ động trong việc đóng bảo hiểm và cân đối nguồn tài chính chi tiêu, tiết kiệm trong gia đình. Đối với tổ chức sử dụng lao động - BHXH góp phần ổn định các nguồn lực trong quá trình hoạt động của tổ chức sử dụng lao động.
Khi NLĐ gặp rủi ro trong lao động và trong đời sống, việc BHXH chi trả thu nhập cho NLĐ sẽ góp phần làm cho lực lượng lao động trong tổ chức được ổn định, hoạt động của tổ chức tiếp tục được duy trì. Cũng chính từ điều này mà BHXH đã thể hiện tính trách nhiệm của tổ chức và lãnh đạo, từ đó, tạo thêm niềm tin của NLĐ, ổn định và phát triển mối quan hệ giữa NLĐ với người sử dụng lao động, góp phần gia tăng uy tín, thương hiệu cho tổ chức đồng thời là yếu tố giúp tổ chức thu hút, giữ chân NLĐ. - BHXH góp phần gia tăng các lợi ích tài chính cho tổ chức sử dụng lao động. Khi rủi ro xảy ra, việc chi trả của BHXH một mặt giúp NLĐ yên tâm làm việc, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng công việc, gia tăng doanh thu và lợi nhuận cho DN; mặt khác giúp giảm các khoản chi đột xuất của tổ chức cho NLĐ nên tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn.
Đối với Nhà nước và xã hội - Đối với Nhà nước, trong hoạt động BHXH, Nhà nước tiến hành xây dựng chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH đồng thời nhằm thực hiện vai trò quản lý về BHXH, bảo hộ cho quỹ BHXH nhằm hạn chế việc tăng chi từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này. - Đối với xã hội, chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh e 11 tế và xã hội trên phương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ gìn ổn định xã hội trong từng thời kỳ cũng như trong suốt quá trình. Ngoài ra, với đặc điểm là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, BHXH còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Chức năng BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, BHXH có 2 chức năng cơ bản sau: - Phòng ngừa rủi ro: Việc chi trả của BHXH giúp NLĐ duy trì một chuẩn mực sống tương đối ổn định ngay cả khi trong trường hợp có sự cố bất ngờ rủi ro xảy ra.
- An sinh xã hội: Chức năng này thể hiện thông qua việc BHXH bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ; phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH; góp phần kích thích nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội; góp phần thu hút lao động, hình thành và phát triển thị trường lao động, gắn bó các lợi ích của NLĐ, người sử dụng lao động và các lợi ích xã hội. Hai chức năng trên luôn hỗ trợ cho nhau và đảm bảo ổn định kinh tế, tài chính cho NLĐ, khuyến khích họ yên tâm làm việc phát huy hết khả năng, năng lực chuyên môn giúp cho nền kinh tế phát triển, ổn định xã hội, đảm bảo an toàn cho quốc gia về kinh tế chính trị và an ninh quốc phòng. Nguyên tắc và đối tượng tham gia BHXH 1. Nguyên tắc BHXH là loại hình bảo hiểm không vì mục tiêu lợi nhuận nên BHXH hoạt động dựa theo nguyên tắc cơ bản sau: - Mọi người lao động đều có quyền tham gia và hưởng trợ cấp BHXH: NLĐ không phân biệt trình độ, độ tuổi hay ngành nghề đều có quyền tham gia và hưởng trợ cấp BHXH.