CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THU BHXH BẮT BUỘC VÀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU BHXH BẮT BUỘC 1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm BHXH Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, BHXH được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: góc độ tài chính, pháp luật, chính sách xã hội,.…Vì vậy, BHXH cũng được hiểu theo nhiều khái niệm khác nhau. Tuy xuất phát ở nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau, nhưng các khái niệm, định nghĩa về BHXH đều xem xét BHXH là một hình thức bảo hiểm mang tính xã hội, hoạt động phi lợi nhuận, có sự hỗ trợ và bảo hộ của Nhà nước, chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho NLĐ và đảm bảo an sinh xã hội.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về BHXH đã được thể hiện trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959. Điều 32 Hiến pháp 1959 quy định: "NLĐ được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động. Nhà nước mở rộng dần các tổ chức BHXH, cứu tế và y tế để đảm bảo cho mọi người được hưởng quyền đó". Đến năm 1995, BHXH việt Nam được thành lập đồng thời cơ chế quản lý BHXH được quy định tại Điều lệ BHXH do Chính phủ ban hành, đến tháng 6/2006 tại kỳ họp thứ 9 khóa XI, Quốc hội thông qua Luật BHXH có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007.
Do vậy trước và sau khi Luật BHXH ra đời các khái niệm về BHXH được hiểu theo nhiều khái niệm khác nhau: - Về góc độ chính sách thì: BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo NLĐ và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia. - Về góc độ quản lý thì: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ, người sử dụng lao động và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội. - Về góc độ tài chính thì: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia là NLĐ và chủ SDLĐ và có sự hỗ trợ bảo đảm của Nhà nước. 5 - Về góc độ thu nhập thì: BHXH là sự bảo đảm thay thế một phần thu nhập khi NLĐ có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập.
- Theo Bộ luật Lao động: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội”. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách cao nhất, đầy đủ nhất khi có Luật BHXH, đó là: "BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của nguời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo biểm xã hội". BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. Mục đích, ý nghĩa của BHXH BHXH mang tính xã hội, tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc.
Tính xã hội, tính nhân đạo và nhân văn trong các chế độ BHXH quy định bản chất của BHXH, đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc và trợ cấp cho các gia đình đông con. BHXH là chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Quỹ BHXH để thực hiện chế độ BHXH là do NLĐ, người sử dụng lao động đóng góp và Nhà nước hỗ trợ, đấy chính là tính chất xã hội. Tính xã hội còn được thể hiện thông qua các chế độ BHXH được hưởng.
BHXH là sự san sẻ rủi ro, chia nhỏ rủi ro cho nhiều cá nhân trong cộng đồng cùng gánh chịu, hay nói cách khác "lấy số đông bù số ít", tức là dùng số tiền đóng góp của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người khi gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất. BHXH được coi là một chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội, song hành cùng với chính sách kinh tế, nhằm bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho mọi NLĐ, chống các tệ nạn xã hội, góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy sản xuất phát triển. Với tư cách là công cụ để quản lý xã hội, Nhà 6 nước quy định quyền và trách nhiệm giữa các bên tham gia BHXH, đặc biệt mối quan hệ giữa NLĐ và người sử dụng lao động; yêu cầu người sử dụng lao động phải thực hiện những cam kết, đảm bảo điều kiện làm việc, nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ, trong đó có nhu cầu cơ bản về tiền lương, tiền công, chăm sóc sức khoẻ khi bị ốm đau, tai nạn. Chức năng nhiệm vụ của BHXH Hoạt động BHXH là hoạt động sự nghiệp của toàn xã hội, phục vụ mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải là mục tiêu của hoạt động BHXH và BHXH hoạt động không vì lợi ích kinh doanh, không hạch toán lãi, lỗ.
Do đó, chính sách BHXH có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội của một quốc gia và được thể hiện ở các mặt sau đây: BHXH góp phần ổn định đời sống của NLĐ và gia đình khi đã hết tuổi lao động hoặc không đủ sức tiếp tục lao động, hoặc quá trình làm việc không may gặp phải rủi ro tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Mục đích lớn nhất của BHXH là đảm bảo đời sống cho NLĐ tham gia BHXH sẽ được thay thế một phần thu nhập bị mất hoặc giảm thu nhập, nó làm cho NLĐ yên tâm cống hiến và không phải lo lắng khi rủi ro có thể xảy ra. Hoặc khi về già hết tuổi lao động không đi làm nữa vẫn có thu nhập ổn định để đảm bảo cuộc sống. Đồng thời, BHXH góp phần hạn chế và điều hòa các mâu thuẫn có thể xảy ra giữa người sử dụng lao động và NLĐ, tạo môi trường làm việc bình đẳng, ổn định, đảm bảo cho hoạt động sản xuất, công tác đạt hiệu quả cao, từ đó góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
Đây là vai trò cơ bản nhất của chính sách BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất, phương thức hoạt động của BHXH. Là chính sách trụ cột trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, Luật BHXH quy định theo nguyên tắc: đóng - hưởng “lấy số đông bù cho số ít” mang ý nghĩa cộng đồng, chia sẻ, là sự bảo đảm thay thế cho NLĐ nhằm giải quyết những rủi ro trong cuộc sống khi ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm cũng như khi đến tuổi già không còn khả năng lao động. Với vai trò chủ đạo của Nhà nước, sự tham gia của NLĐ và người SDLĐ, sự hỗ trợ của Nhà nước đã hình thành lên quỹ BHXH là quỹ an sinh xã hội. BHXH không những đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ mà còn góp phần bảo vệ lợi ích của người sử dụng lao động khi rủi ro xảy ra đối với NLĐ của mình, nó tạo điều kiện cho người sử dụng lao động có thể nhanh chóng ổn 7 định sản xuất.
Đồng thời, thể hiện sự quan tâm của người sử dụng lao động đối với NLĐ thông qua việc đóng góp vào quỹ BHXH, do đó NLĐ có trách nhiệm hơn trong công việc, tích cực, sáng tạo trong quá trình lao động. BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội, BHXH dựa trên nguyên tắc NLĐ bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp và thụ hưởng. Thông qua hoạt động của mình, BHXH tham gia vào việc phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa những NLĐ thế hệ trước với thế hệ sau, giữa những ngành nghề sản xuất, giữa những người thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người may mắn và không may mắn. Mặt khác mức hưởng BHXH phụ thuộc vào mức đóng, thời gian đóng dài hay ngắn theo nguyên tắc "có đóng có hưởng" và "đóng cao hưởng cao, đóng thấp hưởng thấp"; đối tượng tham gia không chỉ trong đơn vị hành chính sự nghiệp của Nhà nước mà còn ở các thành phần kinh tế.
Vì vậy, BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. BHXH góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước, góp phần đảm bảo ổn định tình hình an ninh trật tự và chính trị, xã hội. Ngoài ra, hệ thống BHXH cũng góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chính phong phú và kinh tế phát triển. Do quỹ BHXH có nguồn tiền nhàn rỗi được đem đi đầu tư đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ, mang lại lợi ích cho tất cả các chủ thể trong quan hệ BHXH.
Như vậy, vai trò của BHXH là rất lớn đối với NLĐ, người SDLĐ và toàn xã hội. Đối với Việt Nam hiện nay, với chức năng của mình, BHXH đang là một khâu không thể thiếu trong việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, góp phần vào ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Quỹ BHXH “Bất kì một hoạt động kinh tế - xã hội nào muốn thực hiện được đều phải có một nguồn tài chính riêng. Đối với hoạt động BHXH, quỹ BHXH được hiểu là một quỹ tài chính độc lập, tập trung, được tích lũy dần từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác và được Nhà nước bảo hộ; được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ theo quy định của pháp luật BHXH”.
Theo đó, quỹ BHXH bắt buộc ở Việt Nam được hình thành từ các nguồn sau: - “Người SDLĐ đóng theo quy định hiện hành. - NLĐ đóng theo quy định hiện hành.