CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm, vai trò bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Trong đời sống xã hội, con người luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ, do nhiều nguyên nhân như thiên tai, dịch bệnh, tai nạn, ốm đau, hỏa hoạn… gây ra, để lại những hậu quả to lớn. Chính vì vậy, phải đưa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa, hạn chế và khắc phục hậu quả những rủi ro đó.
Thông thường có hai nhóm biện pháp, đó là phòng chống rủi ro và khắc phục hậu quả rủi ro. Để phòng ngừa rủi ro, con người phải đưa ra các biện pháp nhằm kiểm soát, ngăn ngừa, né tránh và giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra. Chẳng hạn, để giảm thiểu tai nạn giao thông thì phải tuyên truyền về luật giao thông; người lái xe phải có bằng lái xe; phải phân luồng giao thông … Để giảm thiểu tai nạn lao động, yêu cầu mọi người phải học nội quy làm việc, trang bị bảo hộ lao động; chấp hành quy trình vận hành máy móc, thiết bị. Để giảm thiểu hỏa hoạn, yêu cầu mọi tổ chức cá nhân phải chấp hành nội quy phòng cháy, chữa cháy… Để khắc phục hậu quả rủi ro, con người có thể chấp nhận và tự khắc phục hoặc tham gia bảo hiểm.
Chấp nhận rủi ro là người gặp phải rủi ro phải chấp nhận tự bù đắp tổn thất cho mình. Họ có thể chủ động lập quỹ dự phòng trước; hoặc cũng có thể đi vay ngân hàng để bù đắp trong trường hợp không lập quỹ dự phòng. Ở hình thức này, người gặp rủi ro thường phải bị động, ngay cả trong trường hợp có lập quỹ dự phòng nhưng số thiệt hại quá lớn, vì vậy sẽ rất khó khăn cho họ. Bảo hiểm là công cụ quan trọng và có hiệu quả nhất để khắc phục hậu quả, tổn thất khi xảy ra rủi ro.
Những đối tượng có cùng khả năng gặp phải một loại rủi ro nào đấy đóng góp một khoản phí cho nhà quản lý để hình thành quỹ dự trữ dùng bồi thường thiệt hại hoặc trợ cấp cho đối tượng tham gia bảo hiểm khi gặp phải rủi ro. Ở hình thức này, người ta sẽ luôn yên tâm, chủ động vì nếu xảy ra rủi ro sẽ nhận được tiền bồi thường (hoặc trợ cấp) để khắc phục hậu quả, tổn thất và thông thường, khoản bồi thường ấy lớn hơn nhiều lần mức phí mà họ đã đóng góp cho quỹ dự trữ. Bảo hiểm là chế độ bồi thường kinh tế, san sẻ rủi ro giữa những đối tượng có cùng khả năng gặp phải một loại rủi ro nào đấy theo những nguyên tắc, chuẩn mực đã được thống nhất, quy định trước. Nguồn tài chính bảo đảm hình thành từ sự đóng góp của 7 những đối tượng tham gia bảo hiểm (thông qua nhà quản lý bảo hiểm) dùng để bù đắp, khắc phục tổn thất khi rủi ro xảy ra.
Mục đích của bảo hiểm là góp phần làm ổn định, an toàn kinh tế cho mọi cá nhân, tổ chức, bảo đảm an toàn xã hội. Những rủi ro hoặc biến cố mà con người gặp phải làm suy giảm sức khỏe, ảnh hưởng đến việc làm, theo đó làm cho họ bị giảm hoặc không còn thu nhập, được xem là những rủi ro thuộc về lĩnh vực xã hội, như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu không còn khả năng lao động hoặc bị thất nghiệp… Khi gặp những rủi ro đó, cần thiết phải có một nguồn thu nhập khác bù đắp để duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình họ. Để có nguồn lực tài chính cung cấp kịp thời cho những nhu cầu đó, cần thiết phải có một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ đóng góp của người tham gia bảo hiểm và của cả cộng đồng. Những nội dung đó chính là đặc trưng của bảo hiểm xã hội.
Hiện nay có khá nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm xã hội: Từ giác độ Pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng tiền đóng góp của NSDLĐ, NLĐ và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của Pháp luật (nghỉ hưu) hoặc chết. Từ giác độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của Pháp luật. Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội… Theo Bộ Luật Lao động: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất khi có Luật BHXH, đó là: BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp quỹ bảo hiểm xã hội.
8 BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. Như vậy bản chất của BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển. Thực chất BHXH là sự tổ chức bù đắp hậu quả của những rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm.
BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước để thỏa mãn nhu cầu an toàn kinh tế của NLĐ và an toàn xã hội. Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở nền tảng là quan hệ lao động giữa ba bên: Người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan BHXH thông thường là các cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và được Nhà nước bảo trợ. Về mặt xã hội, do có sự chia sẻ rủi ro trong xã hội, NLĐ chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra. Ở đây BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số dông bù cho số ít”.
Các loại hình, các chế độ bảo hiểm xã hội 1. Các loại hình bảo hiểm xã hội Luật Bảo hiểm xã hội quy định có hai loại hình BHXH cơ bản: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Trong đó: + BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà người SDLĐ và NLĐ bắt buộc phải tham gia. + BHXH tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội; Sau khi Luật Bảo hiểm xã hội 2014 ra đời đã có những sửa đổi, bổ sung và thay thế cho Luật Bảo hiểm xã hội 2006 đó là: - Mở rộng đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc: theo qui định tại Luật BHXH 2006, người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên.
Theo đó, người làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn dưới 3 tháng và lao động tự do không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Để mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, Luật BHXH 2014 qui định thêm ba nhóm đối tượng như sau: + Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng, áp dụng từ ngày 1/1/2018; 9 + Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018; + Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, phường, thị trấn. Như vậy, theo Luật BHXH 2014, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đã bao phủ gần như toàn bộ người lao động có quan hệ lao động. - Bỏ quy tuổi trần tham gia BHXH tự nguyện: đối tượng tham gia BHXH tự nguyện theo qui định tại Luật BHXH 2006 là công dân Việt Nam, trong độ tuổi lao động, như vậy người đã hết tuổi lao động không được tham gia BHXH tự nguyện, Luật BHXH 2014 đã bỏ qui định tuổi trần tham gia, chỉ qui định người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam, đủ 15 tuổi trở lên.
Các chế độ bảo hiểm xã hội 1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất. Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ: hưu trí; tử tuất. Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tìm việc làm.
Luật BHXH 2014 bổ sung thêm hình thức tham gia và nội dung các chế độ cũng có nhiều thay đổi để đảm bảo tính hợp lí và cân đối thu- chi cho quĩ. - Có thêm chế độ Bảo hiểm hưu trí bổ sung: là chính sách BHXH mang tính chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc, với hình thức này, quĩ được tạo lập từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, khuyến khích người lao động có thu nhập cao và người sử dụng đóng góp để người lao động có mức lương hưu cao hơn khi nghỉ hưu, đáp ứng nhu cầu của người lao động. - Chế độ ốm đau: thay đổi cách tính trợ cấp ốm đau một ngày bằng mức trợ cấp ốm đau một tháng chia cho 24 ngày (làm việc), trước là chia cho 26.