phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về Bảo hiểm xã hội và quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tỉnh Tuyên Quang. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1.
Những vấn đề chung về Bảo hiểm xã hội 1.1 Bảo hiểm xã hội – nội dung chủ yếu của chính sách an sinh xã hội Thuật ngữ Bảo hiểm xã hội (Social Securities) đã ra đời từ hàng trăm năm nay. Hoạt động về Bảo hiểm xã hội (BHXH) được hầu hết các quốc gia trên thế giới triển khai thực hiện. Đến nay, BHXH được coi là một trong những bộ phận đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và chính sách BHXH mang tính chiến lược trên tầm vĩ mô ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, mỗi đất nước đều có cách nhìn nhận về BHXH riêng, nhưng chung một mục đích là an sinh xã hội.
Ban đầu, BHXH chỉ đơn thuần là các hoạt động mang tính chất sơ khai với phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, dưới các hình thức đa dạng. Ngày nay, do yêu cầu của thực tiễn mà hoạt động về BHXH đã dần phát triển biểu hiện cụ thể là sự ra đời của luật pháp về BHXH, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động cũng như quy định trách nhiệm cụ thể của chủ sử dụng lao động. Đây là chính sách mà hầu hết các nước trên thế giới đang sử dụng và hoạt động của nó có xu hướng ngày càng tăng lên. Theo Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2006 (Có hiệu lực từ 01/01/2007) thì: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
Hiện tại bảo hiểm xã hội ở Việt Nam có 2 loại hình cơ bản: - Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia - Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội. Quan niệm về bảo hiểm xã hội này được xây dựng và phát triển chủ yếu là dựa vào những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu trong quá trình tiến hành các 6 hoạt động về BHXH của một số quốc gia có nền kinh tế phát triển hay một số nước có các hoạt động về BHXH mạnh mẽ. Tại nước ta BHXH được xem xét chủ yếu dựa trên 3 góc độ sau: Thứ nhất, xem xét trên góc độ thuật ngữ học, theo từ điển Bách khoa Việt Nam, BHXH được hiểu là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho những người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất, giảm sút khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH nhằm mục đích góp phần đảm bảo an toàn đời sống của chính bản thân người lao động và gia đình họ, đồng thời BHXH còn là công cụ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Thứ hai, xem xét trên góc độ pháp luật thì BHXH là những cơ sở pháp lý bảo vệ những người lao động nhằm trợ cấp vật chất cho người được thụ hưởng các chế độ bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập do không may gặp phải những rủi ro, tai biến như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tuổi cao không còn khả năng lao động hoặc bị chết và những rủi ro khác được quy định trong pháp luật.
Thứ ba, xem xét trên góc độ quản lý thì BHXH có thể được hiểu là hệ thống các chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành, quy định những quy phạm về bảo trợ xã hội để chi trả cho những người lao động không may gặp rủi ro bị giảm sút hoặc không còn khả năng lao động; lao động nữ khi mang thai, sinh sản; những người lao động đã hoàn thành nghĩa vụ của mình đến tuổi nghỉ ngơi mà trong quá trình lao động họ cùng với đơn vị sử dụng họ tham gia đóng góp một khoản kinh phí theo quy định để hình thành nên một quỹ gọi là quỹ BHXH. Quỹ này do một tổ chức chuyển ngành của Nhà nước quản lý, tiến hành các hoạt động theo pháp luật nằm phục vụ cũng như quan tâm đến lợi ích lâu dài của người lao động. Đồng thời, BHXH cũng được xem như là một trong những công cụ quản lý Nhà nước tích cực, có hiệu quả trong việc đảm bảo và duy trì trật tự xã hội.2 Bản chất và chức năng của Bảo hiểm xã hội Bản chất và chức năng của bảo hiểm xã hội được thể hiện qua những nội dung chủ yếu sau đây: 7 Bản chất kinh tế của bảo hiểm xã hội Bản chất kinh tế của BHXH thể hiện ở chỗ những người tham gia cùng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập (khoản đóng góp này không ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất kinh doanh của cá nhân hoặc đơn vị) để lập một quỹ dự trữ. Các khoản đóng góp vào quỹ BHXH bao gồm: đóng góp của người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) và sự hỗ trợ của Nhà nước.
Mục đích của việc hình thành quỹ BHXH để trợ cấp cho những NLĐ khi gặp rủi ro, tránh được những hụt hẫng về thu nhập cho họ. Sự hỗ trợ này được lấy từ quỹ BHXH nên giảm và tiết kiệm được chi ngân sách Nhà nước (NSNN). Đồng thời, bản chất kinh tế còn được thể hiện ở chỗ, NLĐ chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình, nhưng do nhiều nguồn hình thành khác nên quỹ BHXH có khoản tiền lớn đảm bảo đủ chi trả tài chính cho họ khi phát sinh nhu cầu được thanh toán. Quỹ BHXH hoạt động theo nguyên tắc “số đông bù số ít”.
Do tính đặc thù giữa thời gian khoản tiền đóng góp của các bên tham gia BHXH và thời gian khoản chi trả trợ cấp BHXH cho những người hưởng chế độ không trùng nhau, đã tạo cho quỹ BHXH có nguồn tiền “tạm thời nhàn rỗi”. Khoản tiền này được sử dụng cho hoạt động đầu tư sinh lời tạo thu nhập để bảo tồn giá trị cho quỹ BHXH. Quỹ BHXH được hình thành bởi sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng, nó phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối lại thu nhập các nguồn lực giữa các chủ thể tham gia quỹ BHXH. Với ý nghĩa này, BHXH là một hình thức huy động vốn góp phần ổn định tài chính, tiền tệ quốc gia.
Bản chất xã hội của bảo hiểm xã hội Là một chính sách xã hội, chính sách BHXH liên quan đến lợi ích của mọi người dân trong xã hội. Những hẫng hụt và biến cố về thu nhập trong các trường hợp ốm đau, tai nạn làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc khi già yếu trở thành mối đe doạ cuộc sống bình thường của NLĐ. Để khắc phục tình trạng này, truyền thống “lá lành đùm lá rách”, tinh thần “tương thân tương ái” trong nhân dân được phát huy dưới các hình thức đóng góp của Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ khi họ còn khoẻ mạnh, còn có thu nhập, để dùng vào lúc tuổi già, lúc ốm đau. Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra được sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Chính từ đó góp phần tái sản xuất giản đơn 8 và tái sản xuất mở rộng sức lao động tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất có hiệu quả, tạo được thêm nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dịch vụ xã hội phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hoá,… Như vậy, thực tế cho thấy BHXH là công cụ quan trọng và hiệu quả để tạo nên một mạng lưới an toàn cho con người, hoạt động BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội.3 Vai trò của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường Trên cơ sở mang tính chuẩn mực chung là Công ước số 52 ban hành năm 1948 của Công ước GENEVE, các quốc gia tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể mà có những hình thức BHXH phù hợp. Tuy vậy, ở tất cả các quốc gia đều có chung một điểm là BHXH do Nhà nước thống nhất tổ chức và quản lý trong toàn bộ phạm vi nền kinh tế quốc dân. Kể từ khi ra đời và phát triển đến nay, BHXH luôn giữ vững bản chất là một hoạt động vừa mang tính kinh tế lại vừa mang tính cộng đống, mặt khác vẫn mang tính nhân văn và xã hội to lớn. Có thể thấy bảo hiểm xã hội giữ vai trò quan trọng trong tổng thể hệ thống các chính sách đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
BHXH có những vai trò kinh tế - xã hội chủ yếu sau: BHXH đóng vai trò là chính sách quan trọng, khuyến khích, động viên người lao động an tâm sản xuất khi còn khả năng đóng góp sức lao động và là người bảo vệ đắc lực luôn đứng sau người lao động khi họ không may gặp rủi ro, tai biến trong cuộc sống. BHXH đảm bảo đời sống cho chính bản thân người lao động và gia đình họ trong trường hợp người lao động không may gặp phải những rủi ro như suy giảm hoặc mất khả năng lao động gây ảnh hưởng đến tiền lương, là nguồn thu nhập chính để họ duy trì cuộc sống.