CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. TỐNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Sự hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm móng của nó từ thế kỷ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển, song ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp. Ở nước ta, ngày 03/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 54/SL quy định điều kiện nghỉ hưu cho cán bộ công chức thuộc tất cả các ngạch trong nước Việt Nam.
Tiếp theo đó chế độ hưu bổng cho công chức cũng đã được quy định cụ thể bằng Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/06/1946 của Chủ tịch nước. Nhằm từng bước luật hóa các chế độ chính sách xã hội cho người lao động, Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/03/1947 được ban hành quy định chế độ làm việc cho người lao động. Theo đó chủ sử dụng lao động ngoài việc chi trả tiền lương cho công nhân còn phải đảm bảo các khoản phụ cấp cho gia đình họ; quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng làm ca đêm, làm thêm giờ, ngày nghỉ lễ và chế độ sinh nở, chế độ nghỉ ốm của người lao động. Các chế độ BHXH này đã được hoàn thiện dần dần qua các Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/05/1950 của Chủ tịch nước.
Hiến pháp 1959 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã nêu rõ quyền của người lao động được trợ cấp về vật chất khi già yếu, ốm đau, bệnh tật hoặc mất sức lao động. Tuy nhiên do chiến tranh và khả năng kinh tế có hạn nên chỉ một bộ phận lao động xã hội được hưởng quyền lợi BHXH. Sau khi hòa bình lập lại, ngày 27/12/1961 Chính phủ ban hành Nghị định 128/CP về “Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức” và được thực hiện từ ngày 01/01/1962. Sau hơn 20 năm thực hiện BHXH đối với công nhân viên chức, các chế độ bảo hiểm xã hội đã bộc lộ nhiều hạn chế.
Vì vậy ngày 18/09/1985 Chính phủ (lúc đó là Hội đồng Bộ trưởng) đã ban hành nghị 5 định 236/HĐBT về việc sửa đổi, bổ sung chính sách và chế độ BHXH đối với người lao động, nội dung chủ yếu là điều chỉnh mức đóng và hưởng BHXH. Tuy nhiên, chính sách BHXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế không phù hợp với cơ chế mới. Do đó, ngày 22/06/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế. Nhưng BHXH Việt Nam chỉ có bước đột phá sau khi có Nghị định 12/CP về việc ban hành “Điều lệ BHXH đối với công chức, viên chức và công nhân của Nhà nước và mọi loại lao động theo loại hình bắt buộc”, Nghị định 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ ban hành điều lệ đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
Để đáp ứng với đòi hỏi sự đổi mới về chế độ quản lý, ngày 01/10/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành lập Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.2 Khái niệm BHXH; BHXH bắt buộc và quỹ bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, BHXH đã trở thành một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước, là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội. Ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, BHXH được nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau. Từ góc độ Pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết [l0,tr.5] Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội [10,tr.5] Tuy nhiên, dù ở giác độ nào thì BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc.
6 Theo tổ chức Lao động thế giới (ILO) đã đưa ra khái niệm về BHXH được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới: BHXH là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời sống của các thành viên và đảm bảo an toàn xã hội. Theo Đỗ Văn Sinh: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bao thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.14] Khái niệm về Bảo hiểm xã hội được khái quát một cách cao nhất khi có sự ra đời của Luật Bảo hiểm xã hội: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.2 Khái niệm Bảo hiểm xã hội bắt buộc Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.2] Bảo hiểm xã hội bắt buộc là một hình thức đảm bảo về thu nhập cho người lao động (và một số trường hợp là thành viên gia đình) trong những trường hợp rủi ro nhất định. Việc đảm bảo này được thực hiện trên cơ sở nghĩa vụ phải tham gia đóng góp của các đối tượng nhất định nhằm tạo lập nguồn chi trả. Nói cách khác, các đối tượng không có quyền lựa chọn có được tham gia hay không tham gia mà họ phải tham gia hình thức bảo hiểm xã hội này khi thuộc các trường hợp pháp luật đã quy định.
Tính bắt buộc là một trong những điểm đặc thù của loại hình bảo hiểm xã hội này.3 Khái niệm và đặc điểm Quỹ Bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH là một bộ phận quan trọng nhất của ngành BHXH, nó gắn liền 7 với sự tồn tại và phát triển của ngành BHXH. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quỹ BHXH. Theo quy định của Luật BHXH: “Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước”.2] Đặc điểm cơ bản về quỹ BHXH như sau: - Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn trong đó các nguồn chính là NLĐ, người SDLĐ, Nhà nước với tư cách là người SDLĐ của các cơ quan hành chính sự nghiệp cũng phải đóng theo quy định. Mức đóng BHXH được quy định bằng tỷ lệ (%) trên tiền lương, tiền công tùy từng đối tượng.
- Mục đích của quỹ BHXH là đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình của họ khi NLĐ không may gặp rủi ro làm giảm hoạc mất thu nhập từ lao động. Hoạt động của quỹ không nhằm mục tiêu lợi nhuận, không kinh doanh kiếm lời. - Phân phối quỹ vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính chất không hoàn trả. Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ NLĐ là đối tương tham gia đóng góp BHXH đồng thời cùng là đối tượng nhận trợ cấp BHXH.
Tính chất không hoàn trả thể hiện ở chổ cùng tham gia BHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần, nhiều chế độ khác nhau nhưng có người được hưởng ít lần hơn hoặc thậm chí là không được hưởng. - Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH. Nó là khâu tài chính trung gian, cùng với Ngân sách nhà nước (NSNN) và tài chính doanh nghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia. - Quá trình tích lũy, đảm bảo an toàn quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc và trọng tâm, đặc điểm này xuất phát từ vấn để đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ.
Vì vậy BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tài chính. Nếu xét ở một thời điểm cụ thể nào đó, quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền nhàn rỗi để chi trả trong tương lai.4 Nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Trước hết đó là phần đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước. Đây là nguồn chiếm tỷ trọng lớn 8 nhất và cơ bản của quỹ.
Thứ hai, phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ được cơ quan BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lợi. Thứ ba, phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức vi phạm pháp luật về BHXH. Ngoài ra quỹ còn có nguồn thu hợp pháp khác được pháp luật mỗi nước quy định. Sự phân chia về trách nhiệm đóng BHXH giữa NLĐ và người SDLĐ không phải phân chia rủi ro mà là lợi ích giữa các bên.
Người SDLĐ bỏ ra một khoản tiền nhỏ để đóng BHXH giúp họ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn hơn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ. Đồng thời nó cũng tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa người SDLĐ và NLĐ. Đối với NLĐ, sự đóng góp vào quỹ BHXH là một phần để tự bảo vệ bản thân, vừa thể hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro nếu có của chính mình đồng thời còn có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.