chương 1 là nội dung cơ sở pháp lý về BHTN và nhận diện hành vi trục lợi BHTN. Trong chương 2, thông qua thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận, tác giả sẽ trình bày pháp luật chống trục lợi BHTN và tình hình trục lợi đã diễn ra trên cả nước nói chung và tại địa bàn Ninh Thuận nói riêng. Với chương 3, tác giả kiến nghị các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trục lợi BHTN thông qua các đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật chưa hoàn thiện. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BHTN VÀ NHẬN DIỆN HÀNH VI TRỤC LỢI BHTN 1.
Cơ sở pháp lý về Bảo hiểm thất nghiệp: 1. Khái quát về Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 1. Khái niệm về Bảo hiểm thất nghiệp Thuật ngữ “Bảo hiểm thất nghiệp” gồm hai thành tố: “bảo hiểm” và “thất nghiệp”. Để làm rõ khái niệm BHTN là gì, chúng ta thử tìm hiểu từng thành tố được định nghĩa như thế nào? Bảo hiểm4 là trợ giúp hay đền bù về vật chất khi đau ốm, tai nạn, trong trường hợp đương sự tham gia hoạt động bảo hiểm.
Dưới góc độ kinh tế học, bảo hiểm là một hệ thống các quan hệ kinh tế điều chỉnh sự hình thành, việc phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, biến cố xảy ra. Bằng cách mỗi người trong cộng đồng có thể gặp rủi ro cùng loại - cùng nhau đóng góp một khoản phí vào quỹ chung, khi có một người hay nhóm người gặp rủi ro, bảo hiểm sẽ bù đắp thiệt hại (về tài chính, tài sản, nhân mạng,.) cho họ bằng một khoản tiền mặt. Thông qua phí bảo hiểm, bảo hiểm được xem như là một công cụ chuyển giao các rủi ro tiềm năng từ một cá nhân sang cộng đồng một cách công bằng. Thất nghiệp5 là không có việc làm để sinh sống.
Trong kinh tế học, thất nghiệp được hiểu là tình trạng NLĐ muốn có việc làm mà không tìm được việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số NLĐ không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội tại một thời điểm. Thất nghiệp chính là hệ quả của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Như vậy, BHTN được hiểu một cách đơn giản là một khoản bù đắp tài chính cho NLĐ gặp rủi ro khi bị mất việc làm.
Ở Việt Nam hiện nay, BHTN là một chế độ dành cho NLĐ được quản lý, điều hành và triển khai thực hiện bởi ngành LĐTBXH và Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 4 Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, NXB ĐH Quốc gia TPHCM năm 2011, trang 78 5 Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, NXB ĐH Quốc gia TPHCM năm 2011, trang 1484 21 Sau khi chuyển từ nền kinh tế bao cấp tập trung sang nền kinh tế thị trường và bước vào hội nhập với kinh tế thế giới, bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế – xã hội, thì tình trạng thất nghiệp đang là một trong những vấn đề nan giải và hết sức bức xúc ở nước ta. Hàng năm cả nước có hơn 01 triệu người bước vào tuổi lao động, số lượng lao động trong độ tuổi mỗi năm tăng thêm hơn 400 ngàn người6, nhưng khả năng đáp ứng vị trí việc làm của nền kinh tế lại có hạn. Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế; đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, một bộ phận không nhỏ NLĐ do nhiều nguyên nhân khác nhau đã bị mất việc làm, đời sống khó khăn, ảnh hưởng đến ASXH.
BHTN ra đời để góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho NLĐ được học nghề, tìm việc làm mới. BHTN giúp giảm gánh nặng chi cho ngân sách Nhà nước và DN7. BHTN không những hỗ trợ một khoản tài chính để NLĐ đảm bảo ổn định cuộc sống trong thời gian mất việc mà còn thông qua các hoạt động tư vấn - giới thiệu việc làm, đào tạo và đào tạo lại nghề nghiệp nhằm giúp cho NLĐ thất nghiệp sớm tìm được việc làm mới ổn định và phù hợp. Vậy, Bảo hiểm thất nghiệp là loại bảo hiểm đảm bảo những quyền lợi mà NLĐ có tham gia sẽ được hưởng khi thất nghiệp.
Quyền lợi BHTN mà NLĐ sẽ nhận là được trả tiền mặt khi mất việc. Ngoài ra, còn bao gồm cả BHYT và hỗ trợ chi phí đào tạo nghề trong quãng thời gian NLĐ tìm công việc mới. Ý nghĩa của Bảo hiểm thất nghiệp BHTN không chỉ là công cụ giải quyết vấn đề thất nghiệp trong xã hội mà còn là chính sách giúp ổn định xã hội một cách tốt nhất. Đồng thời, BHTN có chức năng bảo vệ, bù đắp những tổn thất về mặt tài chính cho NLĐ và giúp họ có khả năng cũng như cơ hội quay lại thị trường việc làm.
Bên cạnh đó, BHTN còn có chức năng hạn chế “sự ỷ lại” của NLĐ vào các chính sách ASXH của Nhà nước, khuyến khích họ chăm chỉ làm việc, sẵn sàng làm việc. 6 Nguồn số liệu từ “Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam” quý I/2019, do Bộ LĐTBXH công bố ngày 10/7/2019 7 Trước khi có BHTN, NLĐ mất việc nhận trợ cấp mất việc làm từ ngân sách hoặc từ NSDLĐ 22 Ngoài những lợi ích nêu trên thì BHTN vừa đóng vai trò quan trọng đối với DN, vừa đóng vai trò tối ưu đối với Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề xã hội. Nhờ có BHTN, khi NLĐ bị mất việc, chủ doanh nghiệp không tốn phí trợ cấp thôi việc cho NLĐ nên họ sẽ tiết kiệm chi phí và chủ động trong sử dụng nguồn lao động, tạo động lực phát triển sản xuất. Cũng nhờ có BHTN mà gánh nặng ngân sách của Nhà nước được giảm bớt khi có thất nghiệp xảy ra.
Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp Pháp luật về BHTN được quy định cụ thể tại các văn bản: Luật Việc làm năm 2013; Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ và Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTBXH. Đối tượng tham gia Người lao động và người sử dụng lao động theo Điều 43, Luật Việc làm năm 20138. Loại trừ các đối tượng không thuộc diện tham gia sau đây: - Những người đang hưởng lương hưu hàng tháng hoặc đang nhận trợ cấp mất sức lao động hàng tháng nhưng tiếp tục có sự giao kết HĐLĐ với NSDLĐ9. - NLĐ là giúp việc gia đình.
- Chủ doanh nghiệp. 8 Điều 43, Luật Việc làm 2013, “Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau: (a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;(b) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;(c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng. Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều này”.
9 “Người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này đang hưởng lương hưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp.” 10 “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP. 23 - NLĐ là công dân nước ngoài11. Mức đóng - NLĐ: Đóng bằng 1% số tiền lương, tiền công hàng tháng theo HĐLĐ (do NSDLĐ trích nộp thay). - NSDLĐ: Đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công theo HĐLĐ của những NLĐ đang tham gia BHTN.
Đồng thời còn phải trích tiền lương, tiền công của từng NLĐ để cùng đóng một lúc vào Quỹ BHTN. - Đối với Nhà nước: Hỗ trợ từ 0,5 - 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng BHTN của những NLĐ tham gia BHTN, được trích từ ngân sách và mỗi năm sẽ chuyển một lần vào Quỹ BHTN. Điều kiện hưởng Người lao động quy định tại Khoản 1, Điều 43 của Luật Việc làm năm 2013 đang đóng BHTN được hưởng TCTN khi có đủ bốn điều kiện sau đây: (1) Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc (gọi chung là HĐLĐ), trừ hai trường hợp: - NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật; - Chấm dứt HĐLĐ để hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng. (2) Đã đóng BHTN từ đủ: - 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với các loại HĐLĐ có xác định và không xác định thời hạn; - 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với các loại HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
(3) Đã đăng ký thất nghiệp và nộp hồ sơ hưởng trợ cấp tại Trung tâm DVVL. (4) Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ sáu trường hợp: - Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; 11 Người lao động là công dân nước ngoài Luật chưa điều chỉnh. 24 - Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; - Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; - Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù; - Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; - NLĐ chết. Chế độ hưởng - Mức hưởng TCTN hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng: + Tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.