CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Một số khái niệm về bảo hiểm, bảo hiểm xã hội tự nguyện và các vấn đề liên quan 1. Khái niệm về bảo hiểm Ngày nay, ở hầu khắp các nơi trên thế giới, ngành bảo hiểm đã chiếm chỗ đứng và vị thế lớn trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc và khẳng định vai trò không thể thiếu được đối với nền kinh tế của đất nước. Mặc dù đã ra đời và hình thành từ khá sớm, nhưng hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về bảo hiểm.
Ở từng góc độ tiếp cận khác nhau thì khái niệm bảo hiểm được hiểu theo một nghĩa khác nhau. Có thể ghi nhận khái niệm bảo hiểm dưới 3 góc độ tiếp cận như sau: - Dưới góc độ tài chính: “Bảo hiểm là quá trình lập quỹ dự phòng bằng tiền nhằm phân phối lại những chi phí, mất mát không mong đợi”. - Dưới góc độ pháp lý: “Bảo hiểm là sự cam kết bồi thường hoặc chi trả về mặt kinh tế, trong đó người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm phải đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho đối tượng được bảo hiểm theo các điều kiện bảo hiểm đã quy định. Ngược lại, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro, sự cố bảo hiểm”.
- Trên phương diện thống kê toán: “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ ba”. Đây được coi là định nghĩa mang tính chung nhất của bảo hiểm, bởi khi người tham gia chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ. Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia. Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm (Phạm Thị Lan Phương).
Khái niệm về Bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Bảo hiểm xã hội 10 Sự ra đời của hệ thống BHXH là một trong những sáng tạo của loài người trong lịch sử phát triển xã hội. BHXH luôn là chính sách cốt lõi của hệ thống chính sách ASXH của bất kỳ quốc gia, hệ thống xã hội nào. BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu.
Ở Việt Nam, khái niệm BHXH được quy định thống nhất trong Luật BHXH, 2014. Đây là khái niệm được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu liên quan đến chính sách BHXH ở Việt Nam. Định nghĩa như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Từ khái niệm cho ta thấy, BHXH có vai trò rất quan trọng, là trụ cột cơ bản, là “xương sống” của hệ thống ASXH quốc gia.
BHXH có tác dụng góp phần đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi NLĐ bị giảm hoặc bị mất thu nhập do các yếu tố như (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, khi hết tuổi lao động hoặc chết). Ở nước ta hiện nay, BHXH cơ bản bao gồm BHXH bắt buộc và BHXHTN. Bảo hiểm xã hội tự nguyện Ở Việt Nam BHXHTN là một trong những chính sách ASXH của Đảng và Nhà nước, mang tính nhân văn nhân đạo sâu sắc, là loại hình dịch vụ công, hoạt động phi lợi nhuận, lấy hiệu quả xã hội làm mục đích. Đây là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức.
Ngày 29/06/2006, Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua Luật BHXH. Đây là sự kiện pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BHXH, mở rộng đối tượng tham gia, thụ hưởng BHXH đến khu vực lao động phi chính thức, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền lợi của người tham gia BHXH. Với sự kiện ra đời của Luật BHXH số 71/2006/QH11 đã quy định chính sách BHXHTN cho NLĐ và được thực hiện kể từ ngày 01/01/2008. Lần đầu tiên trong Lịch sử Việt Nam mọi NLĐ (nông dân, lao động khu vực phi chính thức) có cơ hội được tham gia BHXHTN.
Đây là sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng để thực hiện chính sách ASXH cho NLĐ và Nhân dân. Sau 07 năm thực hiện (2008 – 2014), ngày 20/11/2014 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội thông qua Luật BHXH số 58/2014/QH13 thay thế Luật BHXH số 71/2006/QH11 nhằm đảm bảo công bằng, bình đẳng, tiếp tục mở rộng diện bao phủ BHXH, đảm bảo quyền lợi của người tham gia ngày một tốt hơn. Tại Điều 3 nêu rõ 11 “BHXHTN là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất”. Nội hàm của khái niệm đã cho thấy toàn bộ nội dung để thực hiện chính sách BHXHTN cho NLĐ.
Thứ nhất, khi nói đến BHXHTN điều đầu tiên chúng ta thấy, đây là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức và được Nhà nước bảo hộ. Nhà nước ban hành ra chính sách để mọi NLĐ không thuộc đối tượng tham gia BHXHBB đều có thể tham gia vào loại hình BHXHTN này. Nhà nước tổ chức ra thì đồng nghĩa với việc Nhà nước sẽ quản lý và có chính sách vận động, tuyên truyền để NLĐ tham gia vào loại hình BHXHTN với mục đích là giúp NLĐ có cuộc sống ổn định khi hết tuổi lao động, giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước, cho cộng đồng, gia đình và góp phần đảm bảo công bằng trong xã hội. Thứ hai, đây là loại hình BHXHTN, chính vì vậy NLĐ có quyền quyết định tham gia hay không tham gia là do bản thân NLĐ quyết định.
Nhà nước không ép buộc NLĐ phải tham gia, Nhà nước chỉ khuyến khích, vận động NLĐ tham gia để phục vụ lợi ích cho chính bản thân và gia đình NLĐ. Thứ ba, khi NLĐ tham gia BHXHTN thì NLĐ có quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng sao cho phù hợp với thu nhập của NLĐ và đảm bảo nguyên tắc có đóng – có hưởng, đóng cao hưởng cao và đóng thấp hưởng thấp. Thứ tư, khi tham gia BHXHTN thì người tham gia còn được sự hỗ trợ của Nhà nước, người tham gia BHXHTN chỉ cần đóng phần trách nhiệm đóng của mình. Đây là chính sách rất nhân văn của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ năm, khác với BHXHBB, BHXHTN chỉ được hưởng 2 chế độ cơ bản đó là hưu trí và tử tuất. Nhà nước chỉ thực hiện 2 chế độ dài hạn này đối với NLĐ tham gia BHXHTN. Đối tượng, mức đóng và phương thức đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện Đối tượng tham gia BHXHTN theo quy định tại Điều 8, văn bản hợp nhất số 2089/VBHN-BHXH ngày 26/6/2020 của BHXH Việt Nam quy định: “Người tham gia BHXHTN là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXHBB theo quy định của pháp luật về BHXH”.
Như vậy, đối tượng tham gia 12 BHXHTN khá rõ ràng, bao gồm toàn bộ NLĐ từ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXHBB thì được tham gia BHXHTN. Vậy, những đối tượng đó gồm: + NLĐ làm việc theo HĐLĐ có thời hạn dưới 03 tháng trước ngày 01/01/2018; NLĐ làm việc theo HĐLĐ có thời hạn dưới 01 tháng từ ngày 01/01/2018 trở đi; + Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, ấp, bản, sóc, làng, tổ dân phố, khu, khu phố; + NLĐ giúp việc gia đình; + Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương; + Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; + Người nông dân, NLĐ tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân và gia đình; + NLĐ đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về BHXH; + Người tham gia khác. - Cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến BHXHTN Hiện nay, theo quy định tại Điểm h, Khoản 1 Điều 27 của Luật thi hành án dân sự số 41/2019/QH14 có một điểm mới đó là “phạm nhân được tham gia BHXHTN, hưởng chế độ, chính sách về BHXH theo quy định pháp luật”. Quy định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2020.
Tựu chung lại, đối tượng tham gia BHXHTN khá rộng. Nó bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên mà chưa tham gia BHXHBB, kể cả phạm nhân cũng được tham gia BHXHTN. Mức đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện Người lao động theo quy định tại Luật BHXH, hàng tháng đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở. Hiện nay, mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng được quy định tại Quyết định số 13 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020.
Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người lao động tham gia BHXHTN.