phần mở đầu, kết luận đề án được cấu trúc gồm 4 phần: Phần 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển BHXH TN Phần 2. Phương pháp nghiên cứu xây dựng đề án. Thực trạng phát triển BHXH TN trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
Phần 4: Định hướng và giải pháp phát triển BHXH TN trên địa bàn Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Cơ sở lý luận về phát triển Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người tham gia góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Bảo hiểm là hình thức chuyển giao rủi ro. Mua bảo hiểm thực chất là mua sự an tâm, là đổi lấy cái sự không chắc chắn có khả năng xảy ra thiệt hại bằng sự chắc chắn thông qua việc bù đắp bằng tài chính. Theo giáo trình bảo hiểm của Đại học Kinh tế quốc dân: “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn, an sinh xã hội” Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.
Khái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật BHXH năm 2014: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH” (Quốc hội, 2014). Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện BHXH có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, nhưng tựu chung lại có 2 hình thức: BHXH theo hình thức BB và BHXH theo hình thức TN. Như vậy, BHXH TN cũng là một loại hình của BHXH nói chung, bởi vậy nó cũng mang đầy đủ bản chất của BHXH. BHXH TN là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành và quản lý để vận động, khuyến khích NLĐ và người sử dụng lao động TN tham gia, nhằm đảm bảo bù đắp một phần thu nhập cho chính bản thân NLĐ và gia đình họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập do gặp phải những rủi ro xã hội như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già… Đồng thời góp phần đảm bảo công bằng và ASXH”.
Theo Luật BHXH năm 2014, BHXH TN là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có CS hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất (Quốc hội, 2014). Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về BHXH TN nhưng đều có những điểm chung giống nhau là: BHXH TN do Nhà nước tổ chức và quản lý; NLĐ hoàn toàn TN tham gia, không bị pháp luật cưỡng chế. Họ tự lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phí BHXH theo quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện và khả năng tài chính của mình để được hưởng các chế độ BHXH. Có thể nói, BHXH TN là loại hình BHXH nhằm lấp đầy dần các khoảng trống chưa được tham gia loại hình BHXH BB của NLĐ, là cầu nối, là bước quá độ tiến tới thực hiện BHXH cho mọi NLĐ trong xã hội.
Phát triển Bảo Hiểm Xã Hội Tự NguyệnBHXH TN Phát triển là quá trình không những tăng lên về mặt số lượng mà còn phong phú về chủng loại, chất lượng và cơ cấu. Như vậy, phát triển BHXH TN là quá trình tăng lên về số lượng, tỷ lệ lao động tham gia BHXH TN; gia tăng về chất lượng dịch vụ BHXH TN góp 6 phần tăng tỷ lệ bao phủ BHXH toàn dân; tăng nguồn thu cho quỹ BHXH. Có thể hiểu rằng, sự phát triển BHXH TN trước hết là sự gia tăng về số lượng người tham gia bảo hiểm, cơ cấu đối tượng được mở rộng, đối tượng tham gia bảo hiểm ở nhiều tầng lớp lao động, ngành nghề khác nhau. Đồng thời là sự gia tăng chất lượng dịch vụ BHXH TN và cải thiện các CS BHXH TN trên phạm vi từ điểm cho đến toàn quốc gia.
Đặc điểm và vai trò Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện 1. Đặc điểm của Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện Thứ nhất, việc tham gia là hoàn toàn TN. Người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của mình. So với BHXH BB, cơ chế hoạt động của BHXH TN linh hoạt và mềm dẻo hơn.
Thứ hai, đối tượng tham gia BHXH TN thường không phải là người có quan hệ lao động (làm việc trong khu vực chính thức), mà là những người dân… Thứ ba, nguồn tài chính để hình thành quỹ BHXH TN chủ yếu do NLĐ đóng góp. Những người này thường có thu nhập thấp và số người ban đầu tham gia chưa nhiều, cho nên quỹ thường bị hạn hẹp. Thứ tư, BHXH TN thường chỉ được triển khai với một số chế độ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế và khả năng tài chính của các đối tượng tham gia. Để lựa chọn những chế độ phù hợp khi triển khai, các nước đều tiến hành điều tra nhu cầu thực tế từ chính các đối tượng hướng tới và có tính đến khả năng hỗ trợ của Nhà nước.
Thứ năm, BHXH TN thường được triển khai sau BHXH BB. Vì NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH BB thường là cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước (những người làm công, hưởng lương). Sau đó mới mở rộng đối tượng tham gia cho các nhóm lao động khác trong xã hội dưới hình thức BHXH TN. Vai trò Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện BHXH xã hội nói chung và BHXH TN nói riêng đóng vai trò to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội, được thể hiện như sau: Một là, BHXH TN góp phần ổn định cuộc sống NLĐ, hỗ trợ NLĐ khi gặp rủi ro tử tuất và khi hết tuổi lao động.
NlĐ khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ BHXH. Quỹ này hỗ trợ gia đình NLĐ khi gặp tai nạn, hỗ trợ NLĐ khi già để duy trì và ổn định cuộc sống. Do vậy, BHXH TN, một mặt đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng NLĐ đối với bản thân mình, gia đình và đối với xã hội; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia. Hai là, việc tham gia BHXH TN còn giúp NLĐ có ý thức trong việc tiết kiệm đầu tư những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi già, mất sức lao động, nhờ đó nhanh chóng khắc phục được những tổn thất vật chất, sớm phục hồi sức khỏe, góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình.
Ba là, BHXH TN góp phần thực hiện công bằng xã hội. Phân phối trong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội. Sự phân phối lại giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp. Sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống.
Vì vậy, BHXH TN góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, nâng cao tính cộng đồng xã hội, cùng truyền thống đoàn kết, gắn bó các thành viên trong xã hội. Bốn là, BHXH TN góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn cho sản xuất và đời sống xã hội của con người. Đồng thời, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Đối tượng tham gia, phương thức đóng và mức đóng Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện 1.
Đối tượng tham gia Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện Người tham gia BHXH TN là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH BB theo quy định của Luật BHXH, bao gồm: (1) NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng trước ngày 01 tháng 01 năm 2021; NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trở đi; (2) Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, ấp, bản, làng, tổ dân phố, khu phố; (3) NLĐ giúp việc gia đình; (4) Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương; (5) Thành viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; (6) Người dân, NLĐ tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân và gia đình; (7) NLĐ đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về BHXH; (8) Người tham gia khác. Phương thức đóng và mức đóng Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện Theo Khoản 1, Điều 87 Luật BHXH 2014, mức đóng BHXH TN bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH TN lựa chọn. Mức thu nhập tháng do người tham gia bảo BHXH TN lựa chọn: - Thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ: 1.000 đồng; - Cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở: + Bằng 29.