Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động thuộc khu vực phi chính thức (Nghiên cứu trường hợp quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyết Nga thực hiện, thuộc chuyên ngành Xã hội học (mã số: 62.01) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa và TS. Dương Văn Thắng (hoàn thành tháng 11 năm 2020).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) đã xác định BHXH là một trong 4 trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội (ASXH), nhấn mạnh mục tiêu đẩy nhanh quá trình gia tăng số lao động tham gia BHXH trong khu vực kinh tế phi chính thức và nghiên cứu thiết kế các gói BHXH ngắn hạn phù hợp. Theo số liệu thống kê năm 2016, Việt Nam có hơn 18,01 triệu lao động phi chính thức (tăng 2,8% so với năm 2015), trong đó nữ giới chiếm hơn 7,8 triệu người (43,56%). Mặc dù chính sách BHXH tự nguyện được triển khai từ năm 2008 nhằm tạo sự bình đẳng và điểm tựa an sinh dài hạn (hưởng lương hưu và chế độ tử tuất sau 20 năm đóng), quy mô tham gia thực tế vẫn ở mức rất thấp: năm 2017 chỉ đạt 227.506 người (chiếm 0,47% lực lượng lao động trong độ tuổi), đến cuối năm 2019 đạt 551 nghìn người, trong khi cả nước còn khoảng 30 triệu người chưa tham gia BHXH. Phần lớn người tham gia là những người đã có thời gian đóng BHXH bắt buộc chuyển sang đóng tiếp để đủ điều kiện hưởng lương hưu; số người tham gia mới và lao động trẻ chưa nhiều. Trước thực tế đó, khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng các nghiên cứu vận dụng lý thuyết xã hội học chuyên sâu để phân tích hành vi, sự lựa chọn, mức độ tham gia và các yếu tố tác động đến quyết định tham gia BHXH tự nguyện của nhóm lao động phi chính thức tại địa bàn đô thị hóa nhanh.

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm:

  1. Mục đích: Tìm hiểu thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động thuộc khu vực phi chính thức và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tham gia, từ đó đề xuất khuyến nghị nhằm gia tăng tỷ lệ tham gia.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Nhiệm vụ 1: Xác định cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và hệ thống khái niệm công cụ, lựa chọn các khung lý thuyết xã hội học phù hợp.
    • Nhiệm vụ 2: Nhận diện thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại địa bàn khảo sát (số lượng, mức đóng, phương thức, thời gian đóng; đánh giá về chính sách; nhận thức, nhu cầu, khả năng của nhóm chưa tham gia).
    • Nhiệm vụ 3: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia (yếu tố tâm lý, nhận thức, học vấn, kinh tế, chế độ chính sách và công tác truyền thông).
    • Nhiệm vụ 4: Đưa ra các khuyến nghị giải pháp góp phần mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện.

Câu hỏi nghiên cứu được đánh số theo văn bản:

  1. Người lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện ở quận Tây Hồ hiện nay như thế nào?
  2. Người lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện đánh giá thế nào về chế độ chính sách?
  3. Người lao động khu vực phi chính thức chưa tham gia có nhận thức, nhu cầu và khả năng tham gia BHXH tự nguyện như thế nào?
  4. Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức quận Tây Hồ?

Giả thuyết nghiên cứu được xác định tương ứng:

  1. Người lao động khu vực phi chính thức ở quận Tây Hồ tham gia BHXH tự nguyện chiếm tỷ lệ thấp so với số lượng lao động; chủ yếu tham gia trực tiếp (đóng tiền, thụ hưởng chính sách), mức độ chủ động trong truyền thông và giám sát thực thi còn hạn chế.
  2. Người lao động đánh giá mức đóng, thủ tục tham gia, phương thức và địa điểm đóng là phù hợp với điều kiện thực tế, nhưng đánh giá không cao về chế độ thụ hưởng.
  3. Người lao động khu vực phi chính thức chưa tham gia nhận thức chưa tốt về chính sách; có nhu cầu và khả năng nhưng do thiếu thông tin nên khoảng cách tiếp cận còn lớn.
  4. Việc tham gia chịu ảnh hưởng đồng thời bởi các yếu tố chủ quan (nhận thức, thu nhập của người lao động) và các yếu tố khách quan (quy định chính sách, cách thức triển khai và hoạt động truyền thông).

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động thuộc khu vực phi chính thức.
  • Khách thể nghiên cứu: Người lao động khu vực phi chính thức trong độ tuổi lao động đã tham gia BHXH tự nguyện; người lao động khu vực phi chính thức chưa tham gia BHXH tự nguyện; đại diện lãnh đạo các phường và cán bộ phụ trách thu BHXH tự nguyện tại các phường.
  • Phạm vi không gian: Tiến hành tại toàn bộ 8/8 phường thuộc quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội (gồm các phường: Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ, Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An, Xuân La, Phú Thượng).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu trong giai đoạn 2018–2020.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào mức độ tham gia, đánh giá chính sách, nhận thức, nhu cầu, khả năng tham gia và các yếu tố tác động.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân chia thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Thứ nhất, các nghiên cứu lý thuyết và mô hình an sinh xã hội: Tác giả điểm lại quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 1952, 1999, 2012) về ASXH như sự bảo vệ công cộng trước rủi ro giảm thu nhập; định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (2011) về các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro; lý thuyết rủi ro của Dương Văn Thắng (2013); tiếp cận cấu trúc – chức năng của E. Durkheim, T. Parsons (Lê Ngọc Hùng, 2016); tiếp cận lý thuyết vòng đời 5 giai đoạn (Lê Ngọc Hùng và cộng sự, 2017); quan điểm ASXH cấp hộ gia đình (Đặng Nguyên Anh, 2018); hệ thống phúc lợi xã hội (Trần Hữu Quang, 2009). Luận án cũng tổng hợp các mô hình quốc tế như: mô hình dựa vào bảo hiểm rủi ro 3 trụ cột; mô hình phân phối lại thu nhập tại Nhật Bản, Anh, Ấn Độ (Nguyễn Hiền Phương, 2008; Le Garrec & Gilles, 2012); mô hình 3P gồm Phòng ngừa – Bảo vệ – Thúc đẩy (Margaret Grosh và cộng sự, 2008); mô hình sàn an sinh xã hội 3 tầng (ILO, 2012; Nguyễn Thị Lan Hương và cộng sự, 2010); cùng các bài học kinh nghiệm quốc tế từ Đức, Châu Âu, Trung Quốc, Pháp (Mai Ngọc Anh, 2006; Đinh Công Tuấn, 2008; CIEM & GTZ, 2008; Phùng Thị Huệ, 2008; Đỗ Phú Hải, 2014).

Thứ hai, các nghiên cứu về ASXH đối với người lao động khu vực phi chính thức: Bắt nguồn từ các khảo sát của ILO (1972 tại Kenya, khung chuẩn năm 1993); nghiên cứu của Javier Herrera và Nancy Hidalgo (2013) tại Peru chỉ ra 66% lao động nghèo đô thị tập trung ở khu vực phi chính thức; Mạc Tiến Anh (2008) chỉ rõ đặc trưng thu nhập chưa ổn định, quy mô sản xuất nhỏ dưới 10 lao động; Andrea Salvini (2011) phân tích năng suất và chất lượng việc làm thấp; Bùi Sỹ Tuấn và Đỗ Minh Hải (2012) nêu rõ 67% lao động phi chính thức ở nông thôn và ngoại thành, trình độ học vấn thấp (chỉ 15,7% có trình độ từ PTTH trở lên, trên 90% không có chứng chỉ nghề); Nguyễn Xuân Mai và Trần Nguyệt Minh Thu (2014) nhìn nhận khu vực phi chính thức dưới góc độ xã hội học; Hoàng Bá Thịnh (2012, 2015), Lê Công Minh Đức (2013b) và Karin Roth (2013) làm rõ tính dễ bị tổn thương của lao động nữ di cư và người giúp việc gia đình.

Thứ ba, các nghiên cứu về tiếp cận và phát triển BHXH tự nguyện: Nhóm tác giả Đỗ Minh Khuê và cộng sự (2007) khảo sát 150 hộ dân tại Quỳnh Mai và Ô Chợ Dừa (Hà Nội), ghi nhận tỷ lệ mua bảo hiểm thấp (41,3%, chủ yếu là BHYT và xe máy), rất ít nhu cầu BHXH; Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2007, 2013, 2016) nghiên cứu chuyển đổi BHXH nông dân Nghệ An và ASXH cho người khuyết tật (chỉ 2,1% tham gia BHXH tự nguyện); Phạm Đỗ Nhật Tân (2014a, 2014b) đánh giá tỷ lệ bao phủ toàn quốc chỉ đạt trên 0,5%; Thái Dương (2016, 2017) phản ánh 98% lao động phi chính thức chưa có BHXH và tình trạng sa thải công nhân trên 35 tuổi tại các doanh nghiệp dệt may, điện tử (tuổi bình quân chỉ 31,2 tuổi, thời gian làm việc 6–7 năm) khiến họ phải quay lại khu vực phi chính thức; Đặng Quang Điều (2017) chỉ ra nguyên nhân từ cả phía chính sách và thói quen của người lao động; Nguyễn Thị Phương Mai (2017) phân tích thực tiễn Hà Nội năm 2015 chỉ có 19.770 người tham gia (0,51%); Lưu Quang Tuấn (2013) phân tích kinh nghiệm Trung Quốc và đề xuất coi BHXH tự nguyện là sản phẩm dịch vụ; Hoàng Minh Tuấn (2013) đề xuất 4 nhóm giải pháp; Bùi Sỹ Tuấn và Hoàng Minh Tuấn (2016) đề xuất ứng dụng marketing; Hoàng Bích Hồng, Mai Thị Hường, Tô Thị Hồng (2017) khảo sát 342 lao động, chỉ ra yếu tố trách nhiệm đạo lý và truyền thông có tác động mạnh mẽ nhất; Lưu Thị Thu Thủy (2009, 2009b) khảo sát 3.305 phiếu tại 9 tỉnh; Paulette Castel (2010), Cales và Castel (2005), Castel (2008) phân tích rào cản thời gian đóng 20 năm và mức đóng tối thiểu.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây tập trung mô tả số liệu thống kê hoặc phân tích thuần túy dưới góc độ quản lý chính sách công, kinh tế học hay luật học. Luận án này định vị việc nghiên cứu dựa trên sự kết hợp liên ngành xã hội học, vận dụng các lý thuyết xã hội học để phân tích hành vi, sự cân nhắc duy lý, nhận diện vai trò chủ động của người lao động trong việc tham gia, truyền thông và giám sát thực thi chính sách tại một địa bàn đô thị hóa đặc thù.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án làm rõ hệ thống các khái niệm công cụ nền tảng:

  • An sinh xã hội: Tiếp cận theo cả nghĩa rộng (bảo đảm các quyền con người, an toàn trong xã hội) và nghĩa hẹp (bảo đảm thu nhập thiết yếu khi mất hoặc suy giảm khả năng lao động). Luận án xác định ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền của con người về cư trú, việc làm, thu nhập và trợ giúp khi gặp rủi ro.
  • Bảo hiểm xã hội: Sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc tử vong.
  • Bảo hiểm xã hội bắt buộc và Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Phân định theo tính chất tham gia và chế độ thụ hưởng theo Luật BHXH 2014 (BHXH tự nguyện gồm hai chế độ hưu trí và tử tuất).
  • Người lao động, Khu vực phi chính thức và Việc làm phi chính thức: Căn cứ theo các tiêu chí của Tổng cục Thống kê và ILO.

Khung lý thuyết phân tích gồm 3 lý thuyết xã hội học chủ đạo:

  1. Lý thuyết sự lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory): Được sử dụng để giải thích cách thức người lao động tính toán, cân nhắc giữa chi phí đóng góp hàng tháng với lợi ích nhận được trong tương lai (lương hưu, quyền lợi tử tuất) nhằm đưa ra quyết định tham gia hay không tham gia.
  2. Lý thuyết cấu trúc – chức năng (Structural-Functionalism): Xem xét chính sách BHXH tự nguyện như một tiểu hệ thống cấu thành của hệ thống an sinh xã hội, thực hiện chức năng ổn định xã hội, duy trì sự cân bằng, gắn kết và bảo đảm an toàn thu nhập cho các nhóm xã hội.
  3. Lý thuyết sự tham gia (Participation Theory): Đóng vai trò khung phân tích then chốt để làm rõ các mức độ tham gia của người lao động: từ tham gia thụ động (đóng tiền, thụ hưởng chế độ) đến tham gia chủ động (đánh giá chính sách, đóng góp ý kiến, tham gia truyền thông và giám sát việc thực thi chính sách tại cơ sở).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp phân tích tài liệu: Thu thập và tổng hợp các chủ trương, đường lối của Đảng (Nghị quyết số 28-NQ/TW, Nghị quyết số 10-NQ/TW), Luật BHXH, các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của ngành BHXH Việt Nam, BHXH thành phố Hà Nội và BHXH quận Tây Hồ.
  • Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: Tiến hành điều tra xã hội học trên nhóm người lao động phi chính thức đang tham gia và chưa tham gia BHXH tự nguyện tại 8 phường thuộc quận Tây Hồ.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với đại diện lãnh đạo các phòng/ban chuyên môn, lãnh đạo UBND phường, cán bộ phụ trách thu BHXH tại 8 phường và người lao động.
  • Phương pháp quan sát: Quan sát quy trình giao dịch, thu nộp hồ sơ tại cơ quan BHXH, điểm bưu điện/đại lý thu và điều kiện làm việc thực tế của lao động phi chính thức.
  • Phương pháp xử lý thông tin: Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm thống kê chuyên ngành để chạy tần số, bảng chéo, kiểm định tương quan giữa học vấn, thu nhập với dự định và hành vi tham gia; phân loại và mã hóa dữ liệu định tính từ các biên bản phỏng vấn sâu.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế – xã hội của UBND quận Tây Hồ, số liệu quản lý thu của Bảo hiểm xã hội quận Tây Hồ, số liệu niên giám thống kê và các công trình khoa học đã công bố.
  • Dữ liệu sơ cấp: Bộ dữ liệu điều tra định lượng và các bản ghi phỏng vấn sâu trực tiếp thu thập tại 8 phường thuộc quận Tây Hồ trong giai đoạn 2018–2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 mảng nội dung: lý thuyết và mô hình an sinh xã hội; an sinh xã hội cho lao động khu vực kinh tế phi chính thức; thực trạng tiếp cận và các nhân tố tác động đến sự tham gia BHXH tự nguyện. Tác giả chỉ ra rằng đa phần nghiên cứu trước đây dừng ở việc phân tích thể chế, mức độ bao phủ và các rào cản tài chính vĩ mô, thiếu việc tiếp cận hành vi và mức độ tham gia chủ động của đối tượng thụ hưởng dưới lăng kính xã hội học.

Chương 2: Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 làm rõ 6 khái niệm công cụ cơ bản, xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của ba lý thuyết: lựa chọn duy lý, cấu trúc – chức năng và sự tham gia. Chương này cũng phân tích bối cảnh chính sách của Đảng, Nhà nước; trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu, phương pháp khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát và xử lý dữ liệu; đồng thời mô tả đặc điểm kinh tế – xã hội của quận Tây Hồ – địa bàn được thành lập năm 1995 với quá trình đô thị hóa chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sang dịch vụ, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của lực lượng lao động phi chính thức và lao động tự do nhập cư.

Chương 3: Người lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Chương 3 trình bày bức tranh thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của lao động phi chính thức tại thành phố Hà Nội và quận Tây Hồ. Tác giả mô tả chi tiết điều kiện sống, việc làm, thu nhập và các khoản chi tiêu gia đình. Kết quả phân tích cho thấy:

  • Mục đích và phương thức tham gia: Người lao động tham gia chủ yếu nhằm hướng tới lương hưu để bảo đảm cuộc sống tuổi già và giảm phụ thuộc con cái. Phương thức và địa điểm đóng được đánh giá là tương đối thuận tiện.
  • Đánh giá chính sách: Phần lớn người đang tham gia đánh giá quy định về thủ tục, phương thức đóng là phù hợp, nhưng mức độ hấp dẫn của gói quyền lợi chưa cao do chỉ có 2 chế độ dài hạn (hưu trí, tử tuất). Người lao động bày tỏ nhu cầu cấp thiết cần bổ sung thêm các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động.
  • Nhóm chưa tham gia: Nhóm này có mức độ hiểu biết về chính sách còn thấp, tiếp nhận thông tin thụ động, tuy có nhu cầu nhưng gặp rào cản lớn về thu nhập không ổn định và thiếu thông tin hướng dẫn cụ thể.

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ mục dữ liệu và bảng biểu thực tế được tác giả xây dựng trong chương:

Ký hiệu bảng / biểu Tên bảng / biểu trong văn bản luận án Nội dung số liệu phản ánh
Bảng 2.1 Số lượng phỏng vấn người lao động tham gia và không tham gia BHXH tự nguyện tại quận Tây Hồ Phân bổ mẫu khảo sát thực địa tại 8 phường
Bảng 2.2 Cơ cấu mẫu khảo sát Đặc điểm nhân khẩu, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp của mẫu
Bảng 3.1 & 3.2 Số lượng lao động tham gia BHXH tự nguyện tại TP. Hà Nội và quận Tây Hồ Quy mô và tốc độ gia tăng người tham gia qua các năm
Bảng 3.3 Mức thu nhập tháng của người lao động khu vực phi chính thức Phân tầng mức thu nhập thực tế của nhóm khảo sát
Bảng 3.4 & 3.5 Tương quan nhóm tuổi với chi phí học tập của con cái và chi phí vệ sinh, chất đốt Cơ cấu gánh nặng chi tiêu gia đình theo độ tuổi
Bảng 3.6 Thời gian tham gia đóng BHXH tự nguyện; Tương quan việc làm và thời gian đóng Thời gian duy trì đóng phí theo từng loại hình công việc
Bảng 3.7 Mức đóng BHXH tự nguyện của người lao động Tỷ lệ lựa chọn các mức đóng theo thu nhập chuẩn nghèo
Bảng 3.8 Tiếp cận thông tin về BHXH tự nguyện Kênh tiếp nhận thông tin (người thân, bạn bè, loa phường, đại lý)
Bảng 3.9 Đánh giá về mức độ phù hợp của các quy định chính sách BHXH tự nguyện Tỷ lệ đánh giá về thủ tục, mức đóng, phương thức và địa điểm
Biểu 3.1 & 3.2 Các khoản chi tiêu trong năm và Nguồn tích lũy của người lao động Khả năng tài chính dôi dư để trích lập quỹ bảo hiểm
Biểu 3.4 Mục đích tham gia BHXH tự nguyện của người lao động Tỷ trọng các lý do hướng tới lương hưu, giảm gánh nặng tuổi già
Biểu 3.5 – 3.7 Đề nghị điều chỉnh, bổ sung chế độ theo giới tính và trình độ học vấn Nhu cầu bổ sung chế độ ngắn hạn (thai sản, ốm đau)
Biểu 3.9 & 3.10 Nguyên nhân chưa tham gia và Khả năng tham gia của lao động chưa tham gia Rào cản thu nhập, thiếu thông tin và tiềm năng mở rộng

Chương 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức

Chương 4 đi sâu kiểm định và phân tích 3 nhóm yếu tố tác động:

  1. Nhóm yếu tố thuộc về bản thân người lao động:
    • Tâm lý và nhận thức: Tâm lý chú trọng lợi ích trước mắt hơn lợi ích dài hạn; nhận thức về quy định pháp luật và đối tượng áp dụng còn nhiều sai lệch (phản ánh qua Biểu 4.1 và Biểu 4.2).
    • Trình độ học vấn: Tương quan thuận chiều giữa trình độ học vấn với mức độ hiểu biết và dự định tham gia BHXH tự nguyện (Bảng 4.1).
    • Yếu tố kinh tế: Thu nhập hàng tháng và mức độ ổn định thu nhập là yếu tố quyết định trực tiếp đến khả năng trích lũy đóng bảo hiểm lâu dài (Bảng 4.2 và Bảng 4.3).
  2. Nhóm yếu tố thuộc về chế độ, chính sách: Thiết kế chính sách hiện hành còn cứng nhắc, thời gian đóng 20 năm là quá dài đối với lao động lớn tuổi; quy định hỗ trợ mức đóng từ ngân sách nhà nước (theo chuẩn nghèo nông thôn) còn thấp; thiếu vắng các quyền lợi ngắn hạn khiến chính sách giảm sức hấp dẫn.
  3. Nhóm yếu tố thuộc về công tác truyền thông: Các kênh truyền thông đại chúng chưa tiếp cận hiệu quả tới đối tượng lao động di biến động, tự do; hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, thiếu các buổi trao đổi trực tiếp và tư vấn cá nhân hóa (Bảng 4.4 và Bảng 4.5).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã vận dụng kết hợp ba lý thuyết xã hội học (lý thuyết sự lựa chọn duy lý, lý thuyết cấu trúc – chức năng và lý thuyết sự tham gia) vào nghiên cứu BHXH tự nguyện cho người lao động khu vực phi chính thức. Luận án làm rõ mức độ tham gia của người lao động không chỉ giới hạn ở khía cạnh đóng phí và thụ hưởng (tham gia trực tiếp thụ động), mà còn ở khía cạnh đánh giá chính sách, vai trò truyền thông lan tỏa và mức độ tham gia giám sát việc thực thi chính sách tại địa phương.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về thực trạng tham gia, cơ cấu thu nhập, chi tiêu, nhận thức, nhu cầu và các rào cản của lao động phi chính thức tại quận Tây Hồ, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu chỉ ra khoảng cách lớn giữa nhu cầu an sinh và khả năng tiếp cận chính sách, đồng thời xác định rõ các nhân tố then chốt chi phối quyết định tham gia.

Các kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Về hoàn thiện chính sách: Nghiên cứu thiết kế các gói BHXH tự nguyện linh hoạt, bổ sung các chế độ ngắn hạn (như trợ cấp thai sản, ốm đau, tai nạn lao động); xem xét giảm thời gian đóng tối thiểu để hưởng lương hưu; tăng mức hỗ trợ tiền đóng từ ngân sách cho các nhóm lao động có thu nhập thấp.
  • Về công tác truyền thông: Chuyển đổi phương thức tuyên truyền từ một chiều sang truyền thông tương tác, phát huy kênh truyền thông liên cá nhân, tư vấn trực tiếp tại nơi làm việc và nơi cư trú của người lao động phi chính thức.
  • Về tổ chức thực hiện: Đơn giản hóa thủ tục hành chính, mở rộng mạng lưới đại lý thu tại cơ sở, nâng cao năng lực và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ thu bảo hiểm tại các phường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát trường hợp điển hình tại một địa bàn đô thị hóa (quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội) trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến 2020. Do tính chất đặc thù về kinh tế - xã hội của vùng đô thị trung tâm, kết quả nghiên cứu phản ánh sát thực trạng lao động phi chính thức đô thị nhưng chưa bao quát hết đặc thù của lao động phi chính thức khu vực nông thôn thuần túy, vùng sâu vùng xa hoặc các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đặc thù trên quy mô toàn quốc.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở việc triển khai các nghiên cứu so sánh liên vùng (giữa các đô thị lớn và khu vực nông thôn, miền núi); nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tài chính bảo đảm cho việc tích hợp các gói BHXH ngắn hạn; và mở rộng khảo sát dọc (longitudinal study) để theo dõi tính bền vững trong hành vi đóng phí của người lao động sau các can thiệp chính sách.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Xã hội học, Công tác xã hội, Chính sách công, Quản lý xã hội trong việc tham khảo khung lý thuyết xã hội học ứng dụng và phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp định tính – định lượng.
  • Giảng viên giảng dạy các học phần về Xã hội học an sinh xã hội, Xã hội học lao động và Xã hội học đô thị.
  • Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam, cơ quan BHXH thành phố Hà Nội và chính quyền địa phương các cấp trong quá trình sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, xây dựng các gói bảo hiểm linh hoạt và đổi mới chiến lược truyền thông an sinh xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã vận dụng những lý thuyết xã hội học nào để nghiên cứu vấn đề tham gia BHXH tự nguyện?

Tác giả đã kết hợp ba lý thuyết xã hội học chính:

  • Lý thuyết sự lựa chọn duy lý: phân tích sự cân nhắc chi phí – lợi ích của người lao động khi quyết định trích thu nhập đóng bảo hiểm.
  • Lý thuyết cấu trúc – chức năng: nhìn nhận BHXH như một bộ phận cấu thành thực hiện chức năng ổn định và hội nhập xã hội.
  • Lý thuyết sự tham gia: đánh giá các cấp độ tham gia của người lao động từ thụ hưởng trực tiếp đến chủ động đóng góp ý kiến, truyền thông và giám sát chính sách.

2. Thực trạng quy mô tham gia BHXH tự nguyện trên cả nước và tại địa bàn nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?

Theo số liệu trong luận án, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện trên toàn quốc rất thấp: năm 2017 chỉ có 227.506 người (0,47% lực lượng lao động trong độ tuổi); đến cuối năm 2019 có 551 nghìn người, cả nước còn khoảng 30 triệu người chưa tham gia BHXH. Tại quận Tây Hồ, số lượng người tham gia có cao hơn so với một số quận huyện khác trên địa bàn Hà Nội nhưng vẫn chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số lao động phi chính thức tại quận.

3. Người lao động đang tham gia BHXH tự nguyện tại quận Tây Hồ đánh giá như thế nào về các chế độ chính sách hiện hành?

Người lao động đánh giá các yếu tố như thủ tục hành chính, mức đóng tối thiểu, phương thức đóng và địa điểm giao dịch là tương đối thuận tiện và phù hợp. Tuy nhiên, họ đánh giá chưa cao về chế độ thụ hưởng do chính sách hiện tại chỉ bao gồm 2 chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất; đa số người được hỏi có nguyện vọng Nhà nước bổ sung thêm các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản và tai nạn lao động.

4. Những nhóm yếu tố chính nào ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHXH tự nguyện của lao động phi chính thức?

Luận án chỉ ra ba nhóm yếu tố tác động:

  • Nhóm yếu tố người lao động: Nhận thức, trình độ học vấn, tâm lý chú trọng lợi ích trước mắt, mức thu nhập hàng tháng và khả năng tích lũy kinh tế.
  • Nhóm yếu tố chế độ, chính sách: Thời gian đóng 20 năm dài, thiếu chế độ ngắn hạn và mức hỗ trợ tiền đóng từ ngân sách còn thấp.
  • Nhóm yếu tố truyền thông: Hình thức tuyên truyền chưa đa dạng, thiếu kênh truyền thông tương tác trực tiếp tới các nhóm lao động làm việc phân tán.

5. Khách thể và địa bàn khảo sát thực tế của luận án được triển khai ở đâu?

Khảo sát thực địa được tiến hành trên toàn bộ 8/8 phường thuộc quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội (gồm Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ, Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An, Xuân La, Phú Thượng) trong giai đoạn 2018–2020, bao gồm cả nhóm lao động phi chính thức đã tham gia, nhóm chưa tham gia, cùng đại diện lãnh đạo phường và cán bộ thu BHXH.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Bằng việc kết hợp liên ngành xã hội học với các lý thuyết lựa chọn duy lý, cấu trúc – chức năng và sự tham gia, luận án đã làm sáng tỏ những rào cản về kinh tế, nhận thức, thiết kế chế độ và truyền thông đang cản trở việc mở rộng diện bao phủ an sinh. Các phát hiện thực chứng và hệ thống giải pháp đề xuất trong luận án là cơ sở khoa học hữu ích cho công tác hoạch định chính sách, hoàn thiện khung pháp lý bảo hiểm xã hội và tăng cường an sinh xã hội cho người lao động phi chính thức tại Việt Nam.