CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, nó ít mang tính chất kinh doanh thương mại mà chủ yếu là tính nhân đạo và nhân văn cao cả. Ở nước ta, BHXH được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm ngay từ khi bôn ba tìm đường cứu nước đến trước lúc đi xa, Người đã nhiều lần đề cập đến cụm từ "Bảo hiểm xã hội" và khẳng định bảo hiểm xã hội là một chính sách cơ bản đối với người lao động.
Trong bài báo cáo về những Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương về phong trào nông dân viết cuối năm 1930, Người chỉ rõ trong đấu tranh của nông dân, đặc biệt "đòi bảo hiểm xã hội, ngày nghỉ được trả công"[11,tr. Năm 1941, khi về nước, trong 10 chính sách của Việt Nam, thì chính sách BHXH được Người đề cập khá toàn diện, với việc ký hàng loạt Sắc lệnh: số 54 (03/11/1945) quy định điều kiện về hưu cho công chức các ngạch; số 58 (10/11/1945) về việc nghỉ gia hạn không lương cho công chức tất cả các ngạch; số 74 (17/12/1945) quy định chế độ hưu cho các nhân viên, công chức mắc bệnh lao, bệnh phong phải nghỉ việc dài ngày. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BHXH đã được thể hiện trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959. Điều 32 Hiến pháp 1959 quy định: "Người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động.
Nhà nước mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để đảm bảo cho mọi người được hưởng quyền đó". Từ năm 1995, cơ chế quản lý BHXH được đổi mới toàn diện bằng việc Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH, đặc biệt Luật BHXH được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, đến năm 2014 Quốc hội ban hành Luật BHXH số 58/2014/QH1, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Khi chưa có Luật BHXH, khái 6 niệm về BHXH được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau: + Dưới góc độ chính sách: BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo NLĐ và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia. + Dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ, người SDLĐ và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
+ Dưới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước. + Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự bảo đảm thay thế một phần thu nhập khi người lao động có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật BHXH số 58/2014/QH13 có hiệu lực từ 01/01/2016, đó là: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia 1.
Đặc điểm, vai trò, chức năng của bảo hiểm xã hội 1. Đặc điểm bảo hiểm xã hội BHXH mang tính chất xã hội, phi lợi nhuận, không vì mục đích kinh doanh thu lợi nhuận mà vì mục đích phục vụ cộng đồng xã hội trên phạm vi toàn quốc, nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và nhà nước, đảm bảo cho người lao động có khoản trợ cấp thiết yếu khi gặp rủi ro, khó khăn trong cuộc sống. BHXH bảo hiểm cho NLĐ trong và sau quá trình lao động. Nói cách khác, khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, NLĐ được bảo hiểm đến lúc chết.
NLĐ muốn được hưởng trợ cấp BHXH thì phải có nghĩa vụ đóng BHXH, chủ SDLĐ có nghĩa vụ đóng BHXH cho NLĐ do mình ký kết hợp đồng lao động. Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH là nguồn hình thành nên quỹ BHXH. Quỹ BHXH được dùng để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ. 7 BHXH chỉ bảo đảm cho các rủi ro bản thân, không bảo đảm cho các rủi ro tài sản và trách nhiệm dân sự.
Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH. Sự tương hỗ trong BHXH được thực hiện trong một cộng đồng rộng rãi, toàn xã hội, nhằm chia sẻ rủi ro. BHXH là một hoạt động thỏa thuận và không thỏa thuận. Điều này thể hiện ở chỗ BHXH có cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
Vai trò của bảo hiểm xã hội Đối với người lao động: BHXH góp phần trợ giúp cho những NLĐ gặp phải rủi ro, bất hạnh, nhanh chóng khắc phục những khó khăn bằng cách tạo cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện sinh hoạt thuận lợi, giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ tin tưởng vào tương lai, từ đó góp phần vào việc tăng năng suất lao động cũng như sự nỗ lực vì sự phát triển của doanh nghiệp, cơ quan họ công tác nói riêng và toàn xã hội nói chung. Đối với xã hội: Thứ nhất, cần phải khẳng định rằng BHXH là loại hình dịch vụ công. Hoạt động BHXH cần cho toàn dân chứ không phải chỉ mình các cán bộ công chức, viên chức Nhà nước. Khi đối tượng tham gia BHXH ngày càng được mở rộng thì giá trị của dịch vụ này ngày càng được tăng lên và đây là một bộ phận trực tiếp làm gia tăng tổng sản phẩm xã hội.
Vì vậy, BHXH phải được xem là ngành dịch vụ công quan trọng trong nền kinh tế. Thứ hai, với tư cách là một chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, BHXH sẽ giải quyết được những rủi ro đối với NLĐ, góp phần tích cực vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của họ và góp tăng năng suất lao động của xã hội. Thông qua sự trợ giúp của BHXH, NLĐ nhận được các chế độ BHXH, họ sẽ có thu nhập thay thế. Như vậy BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia, kích thích tiêu dùng của xã hội, hỗ trợ và bổ sung các chính sách vĩ mô khác của Chính phủ.
Thứ ba, với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH có tác động mạnh mẽ tới chính sách tài chính quốc gia, có ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường tài chính thông qua hoạt động đầu tư tài chính từ quỹ BHXH. Chính vì vậy hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH có tác động không nhỏ tới quá 8 trình phát triển của đất nước, là nguồn vốn quan trọng để tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo thu nhập cho người lao động và tăng tổng sản phẩm quốc dân. Thứ tư, BHXH cũng là chính sách nhằm thực hiện công bằng xã hội, là công cụ để phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Sự phân phối này được tiến hành qua hai cách.
Cách thứ nhất là phân phối theo chiều ngang giữa người đang làm việc và người nghỉ hưu, người trẻ và người già, nam và nữ, người chưa hưởng trợ cấp và người đang hưởng trợ cấp. Cách thứ hai là phân phối theo chiều dọc giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa người giàu và người nghèo. Đây là một trong những mục tiêu quan trọng trong các chính sách kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô của quốc gia. Chức năng của bảo hiểm xã hội BHXH có một số chức năng chủ yếu như sau: Phòng ngừa rủi ro: Với chức năng này BHXH cho phép tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội hoặc các đối tượng đã tham gia trong quá trình kinh tế - xã hội trước đây hoặc tất cả các công dân,.
hình thành các quyền lợi đảm bảo để duy trì một chuẩn mực sống tương đối ổn định ngay cả khi trong trường hợp có sự cố bất ngờ rủi ro xảy ra. An sinh xã hội: Với chức năng này rất cần thiết cho người lao động, người sử dụng lao động mà còn đảm bảo sự ổn định chính trị, an toàn xã hội cho quốc gia, đảm bảo chắc chắn đối với mọi thành viên trong xã hội gặp cảnh nghèo đói đều được cung cấp một khoản thu nhập bằng tiền cũng như các dịch vụ chăm sóc về y tế và dịch vụ xã hội đầy ý nghĩa. Hai chức năng trên này hỗ trợ cho nhau. Đảm bảo ổn định kinh tế tài chính cho người lao động, khuyến khích họ yên tâm làm việc phát huy hết khả năng, năng lực chuyên môn giúp cho nền kinh tế phát triển, ổn định xã hội, đảm bảo an toàn cho quốc gia về kinh tế chính trị và an ninh quốc phòng.
BHXH đã đóng góp vai trò to lớn trong việc bảo đảm an sinh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế, được thể hiện thông qua các tác động chủ yếu cụ thể sau: Bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm thu nhập hoặc bị mất thu nhập do bị suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm. Đây là 9 sự đảm bảo chắc chắn sẽ xảy ra vì mọi người sẽ mất khả năng lao động khi họ hết tuổi lao động, theo các điều kiện quy định của BHXH. Đây là chức năng cơ bản của BHXH nó quyết định tính chất, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của hệ thống BHXH. Thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia đóng góp quỹ BHXH.
Tham gia BHXH có người SDLĐ, NLĐ và nhà nước hỗ trợ đóng góp hình thành xây dựng lên quỹ BHXH. Quỹ BHXH này được sử dụng để chi trả trợ cấp BHXH cho những người tham gia BHXH không may gặp tai nạn, rủi ro.