Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ HỰC IỄ VỀ QUẢ LÝ HU HIỂM XÃ HỘI 1. MỘT SỐ VẤ ĐỀ CƠ BẢN VỀ BHXH 1. ính tất yếu khách quan của BHXH Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống an sinh xã hội nói chung và BHXH nói riêng đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương ngày càng tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động đem lại.
Ngoài tiền lương (thu nhập từ lao động), họ hầu như không có khoản thu nhập nào khác, đặc biệt là ở những nước kinh tế thị trường. Do đó, khi không may bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già,. người lao động sẽ bị giảm hoặc mất thu nhập do không thể tham gia lao động. Sự không ổn định về tiền lương trong các trường hợp này đã trở thành mối đe doạ thường nhật đối với cuộc sống của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương.
Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người lao động làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn.); đồng thời, đấu tranh đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có những trợ giúp nhất định, nhằm bảo đảm cuộc sống cho họ. Xuất phát từ thực tế khách quan trên người ta hiểu rằng toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ chặt chẽ đó được quan niệm là BHXH đối với người lao động. Đây là một trong những phương thức đối phó hữu hiệu nhất trong hệ thống An sinh xã hội của quốc gia, là một trong những phát kiến văn minh nhân loại về khoa học xã hội kết hợp với khoa học tự nhiên để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ cho con người, tuổi già và tàn tật. Đến cuối những năm 1880, BHXH đã mở ra hướng mới.
Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà cả giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên). Sự tham gia đóng bảo hiểm của giới chủ vừa là kết quả của quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân, vừa phản ánh quy luật khách quan của sự phát triển xã hội (tính phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế giữa giới thợ và giới chủ). Giới chủ cần phải có đội ngũ lao động làm thuê ổn định để làm ra sản phẩm, tạo thu nhập và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu người 5 lao động khoẻ mạnh, ít ốm đau, ít bị tai nạn nghề nghiệp.
doanh nghiệp ít hoặc không phải trả chi phí cho những phát sinh này. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ phải chịu chi phí làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến giá thành cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp. Để giảm thiểu những hậu quả này, một mặt doanh nghiệp tích cực cải thiện các điều kiện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động; mặt khác họ cần “san sẻ rủi ro” bằng cách tham gia đóng góp BHXH. Về phía người lao động, tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người lao động, không phân biệt nam - nữ; lao động trực tiếp sản xuất - lao động quản lý, điều hành; người khoẻ - người yếu, lĩnh vực lao động, mà tất cả người lao động đều phải tham gia đóng góp vì mục đích chung- đảm bảo an toàn thu nhập cho chính họ.
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, BHXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở Châu Á, Châu Phi và vùng Caribê. BHXH dần dần đã trở thành trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền cơ bản của con người. BHXH vẫn chưa hoàn toàn khắc phục được những yếu điểm của nó mặc dù cho đến nay nó đã trải qua một thời gian dài.
Song không thể phủ nhận sự tồn tại của hệ thống BHXH là một sự cần thiết tất yếu khách quan cho mọi Quốc gia, cho toàn nhân loại.Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH với tư cách là một thiết chế xã hội, thì những tranh chấp cũng như những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất. Đó cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội loài người trong quá trình phát triển: Sự chia sẻ (mà thuật ngữ chuyên môn gọi là “sự san sẻ, sự chia nhỏ rủi ro”). Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết được bảo hiểm. Ở khía cạnh kinh tế, tham gia BHXH và được BHXH phản ánh một quy luật có tính khách quan: quy luật cung - cầu.
Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nêu. 6 Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn. Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng, dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em. được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế, xã hội, tài chính và quản lý khác nhau.
Đây chính là những nội hàm của ASXH. Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH luôn luôn là trụ cột chính. Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ. Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp.
Như vậy, về bản chất, Đạo luật này là đạo luật về các chế độ BHXH. Ngay trong Công ước số 102 của Tổ chức lao động quốc tế (được thông qua ngày 25-6-1952 tại Hội nghị toàn thể của ILO) có 9 chế độ, gồm: Ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động và Bệnh nghề nghiệp; Thất nghiệp; Tàn tật; Tuổi già (Hưu trí); Tử tuất; Chăm sóc y tế và Trợ cấp gia đình, thì 6 chế độ hoàn toàn thuộc về lĩnh vực BHXH. Một phần của ba chế độ là tàn tật, chế độ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình cũng thuộc BHXH, đó là mất sức lao động- trong chế độ tàn tật; bảo hiểm y tế- trong chế độ chăm sóc y tế và trợ cấp cho con của người lao động bị chết trong chế độ trợ cấp gia đình. Xuất phát từ thực tế khách quan trên người ta hiểu rằng toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ chặt chẽ đó được quan niệm là BHXH đối với người lao động.
Đây là một trong những phương thức đối phó hữu hiệu nhất trong hệ thống An sinh xã hội của quốc gia, là một trong những phát kiến văn minh nhân loại về khoa học xã hội kết hợp với khoa học tự nhiên để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ cho con người. Từ đó có thể nói BHXH là sự cần thiết khách quan và là tất yếu, phản ánh nhu cầu khách quan của đời sống xã hội hiện đại. hái niệm BHXH Theo Luật Bảo hiểm xã hội: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ 7 nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội". Theo định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết.
Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết”. Định nghĩa này phản ánh một cách tổng quan về mục tiêu, bản chất và chức năng của BHXH đối với mỗi quốc gia. Mục tiêu cuối cùng của bảo hiểm xã hội là hướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội đối với mọi người. Theo Bộ luật lao động: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Bản chất BHXH Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận được những gì tương ứng với sức lao động bỏ ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển của con người. Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi và có được một cuộc sống ổn định.