BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP ThS. Nguyễn Thị Thanh Huyền Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh huyennt@uel.vn Tóm tắt: Bài viết này tập trung lược khảo một số lý thuyết cơ bản về bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cũng như vai trò của chúng trong hệ thống an sinh xã hội (ASXH) ở Việt Nam. Bài viết cũng tham khảo các tài liệu nhằm trả lời câu hỏi cơ sở nào để Nhà nước can thiệp và cung cấp BHXH, BHYT, BHTN? Bên cạnh đó, bài viết cũng nghiên cứu kinh nghiệm của Đức, Niu Di-lân, Phần Lan, Ma-lai-xi-a, Trung Quốc về BHXH, BHYT, BHTN và vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp, quản lý đối với 3 chính sách này, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Các bài học cụ thể về nguyên tắc bảo hiểm; vai trò tài trợ của Nhà nước; huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là khu vực tư nhân đóng góp vào nguồn quỹ để giảm gánh nặng cho ngân sách; đa dạng hóa cơ quan quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm; phối hợp giữa Nhà nước và khu vực tư nhân sẽ giảm thiểu sự trùng lắp, tránh lãng phí và đảm bảo tính công bằng; có thể xem xét kinh nghiệm một số quốc gia trong việc chia phúc lợi thành 2 loại bảo hiểm liên quan đến thu nhập và bảo hiểm quốc gia.
Từ khóa: an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, BHXH, BHYT, BHTN Abstract: This article focuses on briefly examining some basic theories about social insurance, health insurance and unemployment insurance as well as its role in the social security system at Viet Nam. The article also reviews references to answer the question on what basis for the state to participate and provide social insurance, health insurance and unemployment insurance? In addition, the article also studies the experiences of Germany, New Zealand, Finland, Malaysia and China in social insurance, health insurance, unemployment insurance and the role of the state in the provision and management of these three policies from which to draw the lessons for Viet Nam. Specific lessons on insurance principles; the state’s donor role; the state’s donor role; mobilize social resources, especially the private sector to contribute to the fund to reduce the burden on the budget; diversify management agencies and use insurance funds; coordination between the public and the private sector will reduce duplication, avoid waste and ensure fairness; It is possible to consider the experience of some countries in dividing benefits into two types of insurance related to income and national insurance. Keywords: social security, social welfare, social insurance, health insurance, unemployment insurance Mã bài báo: JHS-15 Ngày nhận bài: 08/01/2022 Ngày nhận phản biện: 17/01/2022 Ngày nhận sửa bài: 23/01/2022 Ngày duyệt đăng: 26/01/2022 1 TẠP CHÍ NGUỒN NHÂN LỰC Số 03 - tháng 02/2022 VÀ AN SINH XÃ HỘI 1.
Giới thiệu già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những Có thể nói, BHXH, BHYT, BHTN là 3 chính người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai sách lớn trong hệ thống ASXH ở mỗi quốc gia, có địch họa” (Phúc, 2012, tr 14). vai trò quan trọng trong đời sống của người lao Các quốc gia có mức độ phát triển hệ thống động (NLĐ), giúp họ ổn định cuộc sống, trợ giúp ASXH là khác nhau, song nhìn chung đều thuộc họ khi gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động - một trong hai trường phái Nhà nước xã hội và Nhà bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, đảm bảo một phần nước phúc lợi: thu nhập cho họ khi họ bị mất việc làm. Ngoài ra, Nhà nước xã hội (Social State) theo trường phái đây còn là công cụ đắc lực giúp Nhà nước phân của Otto Von Bismarck (Đức): là một hệ thống phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và người xã hội trong đó việc hưởng các phúc lợi xã hội cơ lao động, đồng thời giảm áp lực cho ngân sách nhà bản theo các tiêu chuẩn nhất định của người dân nước (NSNN) và bảo đảm ASXH bền vững. Do về giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, nước sạch, hưu vậy, 3 chính sách trên luôn được quan tâm và dành trí và các phúc lợi khác dựa trên đóng góp của cá nhiều nguồn lực để thực hiện.
Ở mỗi quốc gia khác nhân và các đối tác xã hội. Mô hình Nhà nước xã nhau tùy thuộc vào nguồn lực và thể chế mà việc hội nhấn mạnh đến vai trò, năng lực cá nhân trong cung cấp các chính sách này do Nhà nước hoặc tư việc bảo đảm phúc lợi cơ bản của bản thân. Nhà nhân hoặc có sự kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân. nước đóng vai trò tạo môi trường, cơ chế và chỉ can Riêng ở Việt Nam, 3 chính sách này được cung cấp thiệp trong các trường hợp cần thiết nhằm hạn chế độc quyền bởi Nhà nước, điều này cũng có những các rủi ro đối với các nhóm đặc thù, bảo đảm công ưu và nhược điểm riêng.
Trong bài viết này, tác giả bằng và ổn định xã hội (Viện Khoa học Lao động bàn về cơ sở để Nhà nước tham gia và cung cấp 3 và Xã hội & Tổ chức GIZ, 2011). chính sách, ngoài ra bài viết còn nghiên cứu kinh Nhà nước phúc lợi (Welfare State) theo trường nghiệm một số quốc gia về chính sách BHXH, phái William Henry Beveridge (Anh), được định BHYT, BHTN và vai trò của Nhà nước trong việc nghĩa là một hệ thống xã hội trong đó Chính phủ cung cấp, quản lý đối với 3 chính sách này, từ đó chịu trách nhiệm chính trong việc cung cấp phúc rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. lợi xã hội cơ bản theo các tiêu chuẩn nhất định cho 2. Cơ sở lý thuyết người dân về giáo dục, y tế nhà ở, hưu trí và các phúc 2.
Khái lược về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y lợi khác. Đặc điểm của mô hình Nhà nước phúc lợi tế, bảo hiểm thất nghiệp là người thụ hưởng không phải đóng góp trực tiếp từ 2. Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền túi của mình hoặc đóng góp rất ít (Viện Khoa thất nghiệp trong hệ thống an sinh xã hội học Lao động và Xã hội &Tổ chức GIZ, 2011). - Khái niệm an sinh xã hội Theo quan điểm của Beveridge, các nguyên Trong Công ước số 102, ASXH được định tắc để cải cách hệ thống cũ là việc thống nhất, phổ nghĩa là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên cập và toàn diện; từ luật này, hệ thống ASXH phổ của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cập công cộng đã được xây dựng, giúp NLĐ đối cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh phó với các “thiếu hụt”, gián đoạn về thu nhập do tế và xã hội, gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc mất việc làm, bệnh tật hoặc già cả.
Đề xuất ban đầu giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, của Beveridge không khống chế thời gian hưởng thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi trợ cấp nhưng Chính phủ không chấp nhận vì cho già, tử vong, sự cung cấp về chăm sóc y tế và cả sự rằng việc không giới hạn thời gian sẽ dẫn đến làm cung cấp các khoản tiền trợ cấp cho các gia đình gia tăng lạm dụng. Cũng do mức hưởng lợi không đông con (ILO, 1952). quan hệ với mức đóng nên NLĐ chỉ đóng với mức Ở Việt Nam, “ASXH theo nghĩa rộng: là sự bảo tối thiểu, hậu quả là dần dần nguồn quỹ giảm, mức đảm thực hiện các quyền để con người được an hưởng cũng không còn bảo đảm hỗ trợ cuộc sống bình, bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội. Theo hộ gia đình.
Tuy vậy, theo thời gian mô hình nhà nghĩa hẹp, ASXH chỉ sự bảo đảm thu nhập và điều nước phúc lợi ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế ngay kiện sống thiết yếu cho cá nhân, gia đình và cộng cả ở Anh. Cuối cùng, từ ý tưởng rất “hấp dẫn” theo đồng trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hướng bảo hiểm quốc gia, thực tế hệ thống ASXH hay gặp phải những rủi ro khác; cho những người hoạt động chủ yếu dựa vào sự tài trợ của Nhà nước 2 TẠP CHÍ NGUỒN NHÂN LỰC Số 03 - tháng 02/2022 VÀ AN SINH XÃ HỘI và đã không thể tồn tại do không đủ khả năng đảm ASXH khác nhau, đó là: (i) an sinh cổ truyền, (ii) bảo về nguồn lực. Mặc dù vậy, các quan điểm của ASXH của kinh tế xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa Beveridge đã góp phần hình thành nên mô hình lý tập trung, (iii) ASXH của kinh tế thị trường định thuyết về nhà nước phúc lợi (Dự, 2011). hướng xã hội chủ nghĩa (Quang, 2012).
Đến nay - BHXH, BHYT, BHTN trong hệ thống an sinh Việt Nam áp dụng hệ thống ASXH gồm 4 nhóm xã hội ở Việt Nam. Việt Nam đã trải qua 3 mô hình chính sách như sau: Hình 1. Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2012-2020 HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆC LÀM, ĐẢM BẢO TRỢ GIÚP XÃ HỘI DỊCH VỤ XÃ HỘI THU NHẬP TỐI THIỂU BẢO HIỂM XÃ HỘI CHO CÁC NHÓM CƠ BẢN VÀ GIẢM NGHÈO ĐẶC THÙ TẠO VIỆC LÀM BHXH BẮT BUỘC TRỢ GIÚP GIÁO DỤC XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN Y TẾ TÍN DỤNG ỐM ĐAU (Gồm BHYT) ƯU ĐÃI CHĂM SÓC TẠI THAI SẢN CƠ SỞ BẢO TRỢ NHÀ Ở HỖ TRỢ XÃ HỘI VÀ HỌC NGHỀ TNLĐ-BNN CỘNG ĐỒNG NƯỚC SẠCH HƯU TRÍ HỖ TRỢ HỖ TRỢ TÌM VIỆC LÀM THÔNG TIN TIỀN MẶT (Trong và ngoài TỬ TUẤT nước) BHXH TỰ NGUYỆN TRỢ GIÚP XÃ CHƯƠNG HỘI ĐỘT XUẤT TRÌNH VIỆC LÀM CÔNG HƯU TRÍ TỬ TUẤT GIẢM NGHÈO BH THẤT NGHIỆP BH HƯU TRÍ BỔ SUNG Nguồn: Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Tổ chức GIZ (2011) 3 TẠP CHÍ NGUỒN NHÂN LỰC Số 03 - tháng 02/2022 VÀ AN SINH XÃ HỘI Trong đó: hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị Nhóm chính sách việc làm đảm bảo thu nhập tối giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn thiểu và giảm nghèo: nhằm hỗ trợ người dân chủ lao động (LĐ), bệnh nghề nghiệp, hết tuổi LĐ hoặc động phòng ngừa các rủi ro thông qua tham gia thị chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. BHXH được trường lao động để có được việc làm tốt, thu nhập tối chia thành hai loại: BHXH bắt buộc và BHXH tự thiểu và giảm nghèo bền vững.
nguyện (Luật BHXH, 2014): Nhóm chính sách BHXH: nhằm hỗ trợ người dân - BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà giảm thiểu rủi ro khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia.