Tổng quan nghiên cứu

Tại huyện Đông Anh, một địa bàn ngoại thành phía Bắc Thủ đô Hà Nội với dân số hơn 382.000 người và tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 22%/năm, công tác an sinh xã hội đóng vai trò then chốt trong việc duy trì ổn định kinh tế - chính trị. Mặc dù số thu bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc tăng dần qua các năm, song tỷ lệ tham gia thực tế vẫn ở mức rất thấp. Tính đến hết năm 2016, toàn huyện mới chỉ có 1.250 trong tổng số 3.304 đơn vị đang hoạt động tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động, đạt tỷ lệ 37,83%. Xét về quy mô người lao động, chỉ có 33.965 người trong tổng số 87.063 đối tượng thuộc diện bắt buộc được đóng bảo hiểm, đạt tỷ lệ khiêm tốn 39,01%.

Thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Tình trạng nợ đọng, chậm nộp và trốn đóng BHXH diễn ra phổ biến và gia tăng nhanh chóng. Số đơn vị nợ BHXH bắt buộc đã tăng từ 401 đơn vị với số tiền nợ 66,96 tỷ đồng vào năm 2014 lên mức 612 đơn vị với tổng số tiền nợ 76,09 tỷ đồng vào năm 2016. Đáng lo ngại, số đơn vị có thời gian nợ kéo dài từ 3 tháng trở lên chiếm tới 390 đơn vị vào năm 2016. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh cố tình kê khai mức tiền lương đóng bảo hiểm thấp hơn nhiều so với thu nhập thực tế nhằm cắt giảm chi phí sản xuất kinh doanh, xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của người lao động.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá chính xác thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc giai đoạn 2014 - 2016, phân tích các nhóm yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thu đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao tỷ lệ bao phủ lao động lên trên 50%, giảm tỷ lệ nợ đọng xuống dưới 5% tổng số phải thu, bảo toàn nguồn quỹ an sinh và đảm bảo công bằng xã hội trên địa bàn 24 xã, thị trấn của huyện Đông Anh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản trị công hiện đại kết hợp lý thuyết an sinh xã hội theo Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Mô hình nghiên cứu tiếp cận theo cơ chế Ba bên (Nhà nước - Chủ sử dụng lao động - Người lao động) khởi nguồn từ hệ thống an sinh xã hội Bismarck thế kỷ XIX. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo hành lang pháp lý và điều tiết quản lý; người sử dụng lao động và người lao động đóng vai trò các bên tham gia thực hiện nghĩa vụ đóng góp; cơ quan BHXH là chủ thể chuyên trách tổ chức thu và bảo toàn quỹ.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 khái niệm trọng tâm:

  1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, bắt buộc người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia nhằm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13.
  2. Quản lý thu BHXH bắt buộc: Sự tác động có tổ chức và định hướng của cơ quan BHXH thông qua các biện pháp nghiệp vụ chuyên ngành nhằm khai thác đúng đối tượng, xác định chính xác quỹ lương đóng nộp và đôn đốc thu đúng, đủ, kịp thời vào quỹ tài chính tập trung.
  3. Quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH: Toàn bộ tiền lương theo ngạch bậc quy định của Nhà nước hoặc mức lương, phụ cấp lương ghi trên hợp đồng lao động của đơn vị sử dụng lao động.
  4. Nợ đọng và trốn đóng BHXH: Tình trạng người sử dụng lao động chiếm dụng tiền đóng BHXH của người lao động hoặc chậm trích nộp từ 3 tháng trở lên so với thời hạn quy định.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong khung thời gian từ năm 2014 đến năm 2016, định hướng giải pháp đến năm 2020. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ của BHXH huyện Đông Anh, BHXH thành phố Hà Nội và Niên giám thống kê huyện Đông Anh.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi với tổng dung lượng mẫu là 137 đối tượng. Cỡ mẫu bao gồm 30 chủ sử dụng lao động thuộc các loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp ngoài quốc doanh; 100 người lao động đang làm việc tại các đơn vị; cùng 07 cán bộ lãnh đạo và chuyên viên nghiệp vụ của cơ quan BHXH huyện Đông Anh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao cho các thành phần kinh tế trên địa bàn.

Phương pháp phân tích số liệu chủ yếu bao gồm thống kê mô tả (Descriptive Statistics) nhằm lượng hóa các chỉ tiêu về quy mô đơn vị, số lao động và số tiền thu; phương pháp thống kê so sánh (Comparative Analysis) để đánh giá tốc độ tăng trưởng và mức độ biến động nợ đọng qua chuỗi thời gian 3 năm; phương pháp thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của người lao động và người sử dụng lao động. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp đối chiếu chính xác giữa các quy định pháp lý với dữ liệu thực chứng, tạo cơ sở khoa học vững chắc để phát hiện nguyên nhân gốc rễ của tình trạng thất thu bảo hiểm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2014 - 2016 tại huyện Đông Anh cho thấy nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng trong công tác quản lý thu BHXH bắt buộc:

Thứ nhất, tỷ lệ phát triển đơn vị và người lao động tham gia BHXH bắt buộc còn rất thấp so với tiềm năng phát triển kinh tế của huyện. Đến năm 2016, chỉ có 1.250/3.304 đơn vị kinh doanh tham gia BHXH (đạt 37,83%). Tổng số lao động tham gia đạt 33.965 người trên tổng số 87.063 người thuộc diện phải tham gia, chiếm tỷ lệ vỏn vẹn 39,01%. Điều này phản ánh có hơn 60% lực lượng lao động đủ điều kiện nhưng đang bị bỏ ngoài lưới an sinh xã hội.

Thứ hai, nợ đọng BHXH diễn biến phức tạp và tăng nhanh qua các năm. Năm 2014 có 401 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền 66,96 tỷ đồng (281 đơn vị nợ từ 3 tháng trở lên). Năm 2015 có 447 đơn vị nợ với số tiền 62,59 tỷ đồng (323 đơn vị nợ từ 3 tháng trở lên). Đến năm 2016, số đơn vị nợ đã tăng lên 612 đơn vị (trong đó 390 đơn vị nợ từ 3 tháng trở lên) với số tiền nợ lên tới 76,09 tỷ đồng, tăng 13,63% về quy mô nợ tiền so với năm 2014.

Thứ ba, sự thiếu trung thực trong việc trích nộp quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Năm 2016, mức tiền lương bình quân đóng BHXH bắt buộc của các đơn vị trên địa bàn huyện chỉ bằng 81,91% so với mức tiền lương bình quân người lao động thực tế được hưởng. Đáng chú ý, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh có tỷ lệ trích nộp trên lương thấp nhất, chỉ đạt 78,71% mức thu nhập thực nhận của người lao động.

Thứ tư, tình trạng trốn đóng bảo hiểm cho người lao động được phát hiện rõ nét qua công tác thanh tra. Năm 2014, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra 25 đơn vị và phát hiện 10,10% lao động không được đóng BHXH. Năm 2015 kiểm tra 30 đơn vị phát hiện 11,20% lao động bị bỏ sót. Năm 2016 kiểm tra 35 đơn vị ghi nhận 9,25% người lao động không được người sử dụng lao động đăng ký tham gia bảo hiểm theo đúng quy định.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nợ đọng và thất thu BHXH bắt buộc tại huyện Đông Anh xuất phát từ sự tác động tổng hợp của 4 nhóm yếu tố: hành lang pháp lý, người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan quản lý. Về phía doanh nghiệp, nhiều đơn vị ngoài quốc doanh có quy mô vốn nhỏ, chiến lược kinh doanh ngắn hạn, cố tình chiếm dụng tiền trích nộp BHXH làm vốn lưu động sản xuất kinh doanh. Về phía người lao động, nhận thức về quyền lợi an sinh dài hạn còn hạn chế, nhiều người chấp nhận thỏa thuận nhận tiền mặt thay vì đóng bảo hiểm.

Về phía cơ quan quản lý, đội ngũ cán bộ BHXH huyện Đông Anh gồm 30 người (100% trình độ đại học và trên đại học, trong đó 10% thạc sĩ, 76,67% nữ giới) phải phụ trách quản lý hơn 3.300 doanh nghiệp là một áp lực công việc quá tải. Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành chưa đủ sức răn đe do chế tài xử phạt hành chính chưa đủ mạnh, việc khởi kiện các đơn vị nợ đọng ra tòa án gặp nhiều rào cản về thủ tục tố tụng.

Kết quả nghiên cứu tại Đông Anh hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu tại địa bàn quận Cầu Giấy, quận Hoàng Mai cũng như các công bố của những nhà nghiên cứu an sinh xã hội tại Hà Nội, khi khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh luôn chiếm trên 70% tổng nợ đọng bảo hiểm. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ hình cột so sánh quy mô nợ đọng giai đoạn 2014 - 2016, bảng phân tích tương quan giữa mức lương đóng bảo hiểm và lương thực nhận theo từng khối doanh nghiệp, cùng biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng bao phủ 39,01% lao động. Các mô hình trình bày này giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng nhận diện điểm nóng thất thu để can thiệp kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, đề tài đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Anh đến năm 2020:

Thứ nhất, thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành thanh tra và rà soát đối tượng. Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh chỉ đạo cơ quan BHXH huyện chủ trì phối hợp chặt chẽ với Chi cục Thuế, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và Công an huyện định kỳ hàng quý rà soát 100% doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh và dữ liệu quyết toán thuế. Mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ doanh nghiệp tham gia BHXH bắt buộc lên 65% (tăng hơn 27% so với mức 37,83% năm 2016) và tăng tỷ lệ lao động tham gia đạt trên 55% lực lượng lao động trong diện bắt buộc.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình đôn đốc và kiên quyết cưỡng chế nợ đọng. Ban Giám đốc BHXH huyện Đông Anh thành lập tổ thu nợ chuyên trách, phân công quản lý theo từng cụm xã và khu công nghiệp. Thực hiện gửi thông báo đôn đốc 15 ngày/lần đối với đơn vị chậm nộp từ 02 tháng trở lên; công khai danh tính doanh nghiệp nợ đọng trên cổng thông tin huyện; đồng thời hoàn thiện hồ sơ chuyển cơ quan tư pháp khởi kiện đối với các đơn vị nợ từ 06 tháng trở lên. Mục tiêu kéo giảm tổng số nợ đọng BHXH từ 76,09 tỷ đồng xuống dưới mức 25 tỷ đồng vào năm 2020 (tương đương giảm trên 65% quy mô nợ).

Thứ ba, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và số hóa quản lý thu. Cơ quan BHXH huyện triển khai giao dịch điện tử đạt 100% tại các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn huyện, áp dụng nghiêm ngặt hệ thống quản lý chất lượng TCVN ISO 9001:2008 nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ thu, cấp sổ bảo hiểm xuống dưới 05 ngày làm việc trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ tư, đổi mới phương thức truyền thông và nâng cao năng lực chuyên môn cán bộ. BHXH huyện Đông Anh phối hợp với Liên đoàn Lao động huyện tổ chức đối thoại định kỳ hàng tháng với 30 chủ sử dụng lao động và đại diện người lao động tại các khu công nghiệp Bắc Thăng Long và Đông Anh. Định kỳ hàng năm tổ chức bồi dưỡng kỹ năng kiểm tra sổ sách kế toán, bảng lương cho 30 cán bộ chuyên viên thu để kịp thời phát hiện các hành vi gian lận quỹ lương trích nộp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên ngành Bảo hiểm Xã hội: Cung cấp khung phương pháp quản lý thu thực chứng, quy trình theo dõi nợ đọng và kinh nghiệm thực tiễn từ một địa bàn ngoại thành với đội ngũ 30 cán bộ chuyên trách đang quản lý 3.304 đơn vị sử dụng lao động.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (UBND, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội): Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tế về khoảng trống bao phủ bảo hiểm (hơn 60% lao động chưa tham gia) và mô hình phối hợp liên ngành với cơ quan Thuế để xây dựng kế hoạch phát triển an sinh xã hội cấp huyện đến năm 2020.
  3. Người sử dụng lao động và các nhà quản trị doanh nghiệp: Giúp chủ doanh nghiệp nắm vững các quy định pháp luật về căn cứ đóng nộp, hiểu rõ mức phạt tài chính và chế tài tố tụng khi nợ đọng vượt quá thời hạn, từ đó chủ động chuẩn hóa thang bảng lương cho người lao động.
  4. Học viên cao học, giảng viên và sinh viên khối ngành Kinh tế, Quản lý công: Tài liệu cung cấp mẫu khảo sát thực địa chuẩn hóa trên 137 đối tượng, hệ thống chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2016 và phương pháp luận phân tích kinh tế an sinh xã hội chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ tham gia BHXH bắt buộc tại huyện Đông Anh năm 2016 chỉ đạt 39,01%?

Tỷ lệ bao phủ đạt thấp do trên địa bàn có nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh quy mô nhỏ với ý thức tuân thủ pháp luật chưa cao. Trong tổng số 87.063 lao động thuộc diện bắt buộc, chỉ có 33.965 người được tham gia do người sử dụng lao động thường lách luật bằng hợp đồng thời vụ hoặc thỏa thuận ngầm với người lao động để trốn tránh trách nhiệm trích nộp quỹ bảo hiểm.

Quy mô nợ đọng BHXH tại huyện Đông Anh giai đoạn 2014 - 2016 diễn biến như thế nào?

Tình hình nợ đọng diễn biến ngày càng phức tạp: năm 2014 ghi nhận 401 đơn vị nợ 66,96 tỷ đồng, năm 2015 là 447 đơn vị nợ 62,59 tỷ đồng và đến năm 2016 tăng vọt lên 612 đơn vị nợ 76,09 tỷ đồng. Đáng chú ý, số đơn vị có thời gian nợ kéo dài từ 3 tháng trở lên tăng mạnh từ 281 đơn vị năm 2014 lên 390 đơn vị vào năm 2016.

Các doanh nghiệp trên địa bàn thường gian lận tiền lương đóng BHXH bằng hình thức nào?

Doanh nghiệp thường tách thu nhập của người lao động thành lương cơ bản thấp và bổ sung các khoản phụ cấp, trợ cấp không thuộc diện tính đóng BHXH. Kết quả khảo sát năm 2016 cho thấy mức lương trích nộp bảo hiểm bình quân của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ bằng 78,71% so với tiền lương thực tế mà người lao động nhận được.

Cơ quan BHXH huyện Đông Anh đã áp dụng các biện pháp nào để xử lý các đơn vị chây ỳ nợ đọng?

Cơ quan BHXH huyện áp dụng quy trình đôn đốc định kỳ 15 ngày/lần đối với các đơn vị nợ từ 02 tháng, phối hợp thanh kiểm tra 35 đơn vị trong năm 2016, đồng thời tổng hợp danh sách công khai trên các phương tiện truyền thông và chuyển giao hồ sơ khởi kiện ra tòa án đối với các đơn vị nợ kéo dài trên 06 tháng.

Phương pháp nghiên cứu nào được tác giả sử dụng để đảm bảo độ tin cậy của luận văn?

Tác giả kết hợp phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2016 của BHXH huyện Đông Anh với khảo sát thực địa bằng thang đo Likert trên mẫu 137 đối tượng (gồm 30 chủ doanh nghiệp, 100 người lao động và 07 cán bộ chuyên trách) nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học cho các kết luận.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại địa bàn cấp huyện trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường.
  • Đánh giá chân thực khoảng trống an sinh tại huyện Đông Anh khi mới chỉ có 37,83% đơn vị và 39,01% lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến hết năm 2016.
  • Bóc tách rõ thực trạng nợ đọng 76,09 tỷ đồng và hành vi gian lận quỹ lương trích nộp với tỷ lệ đóng chỉ đạt 78,71% lương thực tế tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
  • Xác định 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng chủ đạo và đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ 30 cán bộ chuyên trách thuộc cơ quan BHXH huyện Đông Anh.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với mục tiêu cắt giảm 65% quy mô nợ đọng và nâng tỷ lệ bao phủ lao động lên trên 55% vào năm 2020.

Lộ trình triển khai tiếp theo đòi hỏi BHXH huyện Đông Anh nhanh chóng số hóa 100% quy trình giao dịch điện tử và siết chặt liên minh quản lý dữ liệu liên ngành Thuế - Bảo hiểm trong giai đoạn 2018 - 2020. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể ứng dụng ngay các phát hiện và khung giải pháp của công trình này nhằm xây dựng chính sách quản trị an sinh hiệu quả và bền vững.