chương I) đã đẻ cập được nhiên vấn đề liên quan đến chính sách, quan hệ lao động, hợp đồng lao động nhưng những nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động khu vực này nếu được nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích, đánh giá sâu hơn sẽ được đầy đủ hơn. Mục ïI - Chương II về để xuất phương án tổ chức thực hiện BHXH đối với khu vực làng nghề truyền thống, ở phần đối tượng đề nghị nghiên cứu về quan hệ lao động cũng như những vấn để được Luật Lao động điều chỉnh vẻ sứ dụng lao động thì người lao động là người ít nhất có đủ L§ tuổi. có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Mà trong quan hệ làng nghề thì việc sử dụng người lao động ở lứa tuổi này có nhiều hơn ở các khu vực kinh tế khác.
Về mức đóng BHXH: với công thức cơ bản để tính mức đồng và các qui định như việc tăng mức đồng từ năm thứ 11 trở đi hoặc Lừ năm thứ 2 điều chỉnh trượt giá 20%, năm kế tiếp mỗi năm cộng thêm 30% thì với tiên lương cơ bẩn ban đầu như chuyên đẻ đẻ cập là 290.000 déngAhang, sau 25 nãm tiên lương của người lao động phải gần 30 triệu đồng. Để nghị nghiên cứu thêm về công thức tính và số liệu bảng tính cho phù hợp (biểu số 7). Quyền lợi và điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí, trợ cấp một lần và phương thức quản lý quĩ, tăng trưởng quĩ, xử lý rủi ro, đẻ nghị xây dựng công thức, bảng tính nhằm xác định khả năng an toàn quĩ trong giai đoạn như thế nào để đảm bảo việc triển khai thực hiện chính sách BHXH, BHYT đối với đối tượng là người lao động khu vực làng nghề vừa đảm bảo tính xã hội, tính nhân văn; nhưng vẫn đảm bảo mức độ tối thiểu về độ an toàn trong chi trả (cần tham khảo kinh nghiện về BHXH đối với nông dân ở Nghệ an chỉ trong thời gian ngắn đã không đảm bảo khả năng chỉ trả). Trong Chương TII, vẻ thể thức văn bản để triển khai thực hiện áp dụng BHXH, BHYT đối với người lao động trong các làng nghề; theo tôi chúng ta có thể làm thí điểm (ví dụ như đẻ xuất là làm tại tỉnh Hải dương) với sự phối hợp chỉ đạo của tính uỷ, UBND tỉnh và BHXH Việt nam là phù hợp, vì đây là chuyên để mang tính thí điểm diện bẹp, thuộc cấp Bộ hoặc tỉnh; không phải cấp Nhà nước.
Không nhất thiết phải có Chính phủ phè duyệt và các Bộ, ngành tham gia hướng dẫn Đối với hệ thống đại lý, để nghị nghiên cứu về chủ thể quản lý và quan hệ về kinh tế, UBND xã chỉ quán lý về mặt hành chính không quản lý về kinh tế; chỉ có chủ hộ sản xuất Kinh doanh mới là chủ thể về kinh tế. Vì vậy để nghị xem lại phần này 3. Chuyên đề là một công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng được công phu, nghiêm túc của tác giả. Kết quả nghiên cứu của chuyên đẻ được xem là một đóng góp về cơ sở lý luận có tính khoa học và thực tiên cho quá trình phát triển sự nghiệp BHXH nối chung, công tác mở rộng phát triển đối tượng tham gia BHXH nối riêng, phù hợp với sự vận động phát triển đi lên trong tiến trình đổi raới vẻ kinh tế - xã hội của Đất nước.
Tuy còn có rột vài hạn chế khiếm khuyết, nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng của chuyên đề. Chuyên đẻ được bổ khuyết, hoàn thiện và được triển khai thực hiện theo hướng những kiến nghị, kế hoạch nêu ra sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước các cấp, cũng. như cơ quan BHXH Việt nam có được những cơsở lý luận cũng như thực tiễn trong việc triển khai thực hiện chính sách BHXH, BHYT đối với người lao động trong các làng nghẻ, đảm bảo quyền lợi vẻ BHXH, BHYT đối với mọi người lao động thuộc các thành phẩn kính tế theo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, góp phần thực i, dam bao quyền bình đẳng của mọi người lao động trong xã hội, đảm bảo phù hợp với sự vận động phát triển di lên trong tiến trình đổi mới kinh tế - xã hội của Đất nước. Toi đánh giá chuyên đẻ đạt loại Khá.
Người nhận vét Nguyễn Tiến Quyết TÓM TẮT CHUYÊN ĐỂ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: TỔ CHỨC THUC HIEN BAO HIEM XA HOl TRONG CAC LANG NGHỀ Ủ HÁI DƯƠNG - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHU NHIEM: TRAN BINH LIEU THƯ KÝ: NGUYÊN TRUNG QUÝ. Hà Nội, năm 2005 Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ra, công cuộc đổi mới vẻ Kinh tế - xã hội của Đấi nước đã thu được những thành tựu đáng kể, nhiều c khu vực kinh tế hình thành, phát triển và khôi phục, góp phản giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạo công ăn việc làm chơ người lao động, tuy động các nguồn lực vào sân xuất, kinh doanh góp phần thực hiện mục tiêu: Dân giàu - Nước mạnh - Xã hội công bằng - Dân chủ - Van minh. Cùng với mục tiêu phát triển kinh tế, mục tiêu phục vụ con người cũng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo và tích cực thực hiện thông qua các chính sách xã hội trong đó có chính sách bảo hiểm xã hội. Nghị quyết Đại hội Đẳng toàn quốc lần thứ TX đã nêu “Từng bước mê rộng vững chắc hệ thống BHXH và an sinh xế hội, tiến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người lao dộng, mọi lẳng lớp nhân dâi Tuy nhiên theo quy định của Nhà nước, một trong các điều kiện cơ bản nhất mà người lao động sẽ được tham gia chính sách BHXH (hay nói một cách khác là được hướng chế độ BHXH) là phải làm việc thường xuyên và có hợp đồng lao động từ đủ 03 tháng trở lên.
Điều đó cũng có nghĩa là những người có lao động song không được thường xuyên hoặc lao động khá thường xuyên song không có sự ràng buộc giữa người sử dụng lao động và người lao động thông qua bợp đồng lao động có thời hiệu đủ 03 tháng thì chưa đủ điểu kiện tham gia chính sách BHXH và không có điều kiện được hưởng chế độ BHXH. "Trong thực tế, những đối tượng đang lao động dưới bình thức này không phải ít và dĩ nhiên họ đang là những người ” đứng ngoài chính sách BHXH ", mặc dù không thể phủ nhận được sự đóng góp của họ là rất lớn trong việc tạo ra sản phẩm cho xã hội nói riêng và sự nghiệp xây dựng nên kinh tế Việt Nam. “rong khì Đăng và Nhà nước ta đang chủ trương phấn đấu cho sự công bằng xã hội và từng bước tiến tới mở rộng, phát triển chính sách BHXH thì đây là một trong những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm để có hướng giải quyết thoả đáng, nhằm bảo đảm cho mọi người lao động chân chính đù dưới bất cứ hình thức lao động nào cũng được công bằng trước pháp luật, trước chính sách xã hội của Nhà nước. Can cit vào tình hình thực tế, đặc thù địa phương và khả năng tiếp càn, BHXH tỉnh Hải Dương quan tâm đến lực lượng lao động biện đang lao động trong các đơn vị sắn xuất kinh doanh tại các làng nghề truyền thống ở địa phương chưa tham gia chính sách BHXH theo quy định hiện hành của Nhà nước, đồng nghĩa với việc chưa được thụ hưởng chính sách BHXH vốn đã có ở Việt Nam hơn 10 năm qua.
Đó lũ tý do vì sao BHXH tỉnh Hải Dương chọn nghiên cứu đề tài này, ng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Hải Dương, 2- Để xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thí điểm thực hiện chính sách BHXH cho các đối tượng lao động tại các làng nghề của tỉnh Hải Dương. II: ĐỔI TƯỜNG VÀ PHANLVI NGHIỆN CỨU, 1- Đối tượng nghiện cứu: Lao động tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Hải Dương. 2- Pham vi nghiên cứu: Bao gôm 28/42 làng nghề hiện có trên địa bàn tỉnh Hải Dương. 1V: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU.
1- Khảo sắt tình hình lao động tại các làng nghề truyền thống có trên địa bàn tỉnh, thông qua số liệu khảo sát, thực hiện mô tả cất ngang có phản tích tình hình lao động tại các làng nghề, đánh giá và rút ra các kết luận cần thiết. 3- So sánh giữa lý luận và thực tiễn, giữa các quy định hiện hành về chính sách BHXH hiện nay và khả nâng tham gia BHXH của số lao động hiện đang lao động tại các làng nghề 3- Trong quá trình nghiên cứu tổng hợp có xử lý số liệu bằng máy vi tính. Y-NGUỒN THU THẬP SỐ LIÊU, 1- Thu thập số liệu từ hệ thống sổ sách, báo cáo, các tài liệu có sẵn khác của chính quyển và các cơ quan chức năng tại địa phương. 2-Từ tài liệu quản lý của cơ quan BHXH tỉnh, huyện, thành phố.
3- Từ kết quả khảo sát thực tế tại các làng nghề của các cơ quan hữu quan trong tỉnh. CHUONG I: THUC TRANG CAC LANG NGHE TRUYEN THONG CUA TINH HAE DUONG. 1-KHÁI QUÁT VỀ TINH HINH KINH TẾ - XA HOF CUA TINH HAI DUONG Hải Dương là một tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc bộ, nằm giữa các thành phố lớn trong tam giác kinh tế phát triển là tià Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Diện tích 1.648 KmỂ, dân số 1,7 triệu mật độ dân số trung bình 1.029 người /KmẺ. H: KHÁI QUÁT VE TINH HÌNH THƯC HIẾN CÔNG TAC THU, CAP SO BH.
TáL TĨNH HAI DƯƠNG Trong những năm qua. được sự chỉ đạo của BHXH Việt Nam, quan tâm của Tỉnh uỷ - HĐND - UBND tỉnh. phối hợp của các sở , ban, ngành, cơ quan, đơn vi, các tổ chức, hỏi, đoàn thể và chính quyền các cấp tại địa phương, BHXH tỉnh Hải Dương đã luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, cấp sổ BHXH góp phản tích cực phát triển chính sách BHXH trên địa bàn tỉnh. Năm 2002, BHXH tỉnh Hải Dương quản lý được 1.325 đơn vị lao động với số.
Jao động là 67. thu 84 tỷ đồng đạt 100 % kế hoạch giao; Xăm 2003, sau kbi tiếp nhận BHYT tỉnh chuyển sang, công tác thu nay đã bao g6m ci thu BHYT bát buộc, BHXH lỉnh Hải Dương đã quân lý 1.451 đơn vị lao động với số lao động là 69.873 người, thu 147 tỷ đồng đạt 102 % kế hoạch giao. Đặc biệt năm 2004: BHXH tỉnh Hải Dương nâng số đơn vị được quản lý lên 1.654 đơn vị sử dụng lao động với số lao động là 78.961 người, thu 151,8 tỷ đồng đạt 102,56 % kế hoạch giao.