Tổng quan luận án

Công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực dịch vụ công là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đại hóa nền hành chính nhà nước. Đối với ngành bảo hiểm xã hội, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị đã xác định bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội. Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong toàn ngành.

Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội là đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ trên địa bàn thủ đô. Trong giai đoạn 2012–2018, khối lượng công việc của đơn vị gia tăng từ 3 đến 4 lần với tính chất ngày càng phức tạp, trong khi chỉ tiêu biên chế tăng rất ít. Thực tế tại đơn vị cho thấy vẫn còn một bộ phận viên chức chưa nắm bắt kịp yêu cầu công việc, kỹ năng xử lý nghiệp vụ và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Hoàn thiện công tác đào tạo cán bộ, viên chức của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội" được tác giả lựa chọn nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện công tác đào tạo cán bộ, viên chức tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến công tác đào tạo cán bộ, viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.
  2. Vận dụng các cơ sở lý luận để tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo cán bộ, viên chức tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016–2018, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
  3. Trên cơ sở mục tiêu, phương hướng phát triển và các hạn chế đã chỉ ra, đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác đào tạo cán bộ, viên chức tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác đào tạo cán bộ, viên chức trong tổ chức (tập trung chủ yếu vào đối tượng viên chức).
  • Phạm vi không gian: Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội (bao gồm Văn phòng cơ quan và các đơn vị trực thuộc quận, huyện, thị xã).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu phục vụ phân tích, đánh giá thực trạng được thu thập chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018; các giải pháp và khuyến nghị được đề xuất định hướng đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống cơ quan nhà nước và ngành BHXH đã được nhiều tác giả tiếp cận dưới các góc độ khác nhau:

  • Cù Ngọc Oánh (2012), đề án “Quy hoạch phát triển nhân lực ngành bảo hiểm xã hội giai đoạn 2011–2020”: Tác giả tập trung phân tích hiện trạng nhân lực toàn ngành BHXH, xác định phương hướng và các giải pháp phát triển nhân lực theo từng giai đoạn.
  • Ngô Võ Lược (2014), bài viết “Nâng cao chất lượng phục vụ BHXH, BHYT vì sự phát triển bền vững” (Tạp chí BHXH, tháng 8/2014): Phân tích tầm quan trọng của chính sách an sinh và đề xuất nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức thực hiện chính sách.
  • Phạm Đức Tiến (2016), luận án tiến sĩ Chính trị học “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế” (Đại học Quốc gia Hà Nội): Tiếp cận dưới góc độ chính trị học, chỉ ra những hạn chế về kỹ năng, năng lực quản lý và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ công chức, từ đó phân tích việc sử dụng quyền lực chính trị để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao.
  • Nguyễn Tuấn Anh (2017), luận án tiến sĩ Kinh tế quốc tế “Đào tạo nhân sự công ở một số nước Đông Nam Á trong điều kiện hiện nay: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam): Hệ thống hóa lý luận về đào tạo công chức, phân tích bài học kinh nghiệm từ Singapore, Malaysia, Thái Lan và đề xuất giải pháp cho Việt Nam.
  • Nguyễn Văn Phong (2017), bài viết “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta hiện nay” (Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 3/2017): Đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng và đề xuất các biện pháp hoàn thiện.
  • Nguyễn Thanh Giang (2019), công trình “Đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” (Viện Lãnh đạo học và Chính sách công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh): Nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức hiện nay.
  • Nguyễn Ngọc Vân (2019), đề tài khoa học cấp bộ “Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng trong thời kỳ mới”: Phân tích các nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong đào tạo công chức, viên chức từ khía cạnh chất lượng giảng viên giảng dạy kiến thức quản lý nhà nước.

Khoảng trống nghiên cứu: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ngành BHXH hoặc đào tạo cán bộ công chức, viên chức nói chung, nhưng chưa có công trình nào đi sâu phân tích toàn diện và chi tiết quy trình tổ chức công tác đào tạo cán bộ, viên chức tại riêng Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội – một đơn vị sự nghiệp công lập đặc thù có quy mô nhân sự lớn và chịu áp lực công việc cao tại địa bàn thủ đô. Luận án kế thừa các lý thuyết nền tảng để giải quyết khoảng trống thực tiễn này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm cán bộ, viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập:
    • Căn cứ Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010 (Điều 2), viên chức được xác định là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
    • Khoản 1 Điều 3 Luật Viên chức năm 2010 quy định về viên chức quản lý. Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập, không mang tính chất quyền lực công như công chức.
  • Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng:
    • Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống các tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học hoặc để trang bị kiến thức, kỹ năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ (Trần Xuân Cầu, 2012; Nguyễn Như Ý, 2011).
    • Bồi dưỡng là quá trình trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc.
    • Hoạt động đào tạo cán bộ, viên chức trong đơn vị sự nghiệp tập trung vào việc bù đắp các thiếu hụt về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, thái độ theo vị trí việc làm.
  • Khái niệm công tác đào tạo: Là một chuỗi quá trình khép kín bao gồm: xác định nhu cầu, xác định mục tiêu, xác định đối tượng, xây dựng chương trình và lựa chọn phương pháp đào tạo, dự trù chi phí và lựa chọn giảng viên, xác định thời gian và tổ chức đào tạo, đánh giá chất lượng sau đào tạo.
  • Quy trình đào tạo cán bộ, viên chức 7 bước:
    1. Bước 1: Xác định nhu cầu đào tạo.
    2. Bước 2: Xác định mục tiêu đào tạo.
    3. Bước 3: Xác định đối tượng đào tạo.
    4. Bước 4: Xây dựng chương trình và lựa chọn phương pháp đào tạo.
    5. Bước 5: Dự trù chi phí đào tạo, lựa chọn giảng viên.
    6. Bước 6: Xác định thời gian tiến hành đào tạo, tổ chức đào tạo.
    7. Bước 7: Đánh giá chất lượng sau đào tạo.
  • Các nhân tố ảnh hưởng:
    • Nhân tố bên trong: Nguồn và chất lượng đầu vào của viên chức; quan điểm của lãnh đạo tổ chức; năng lực của bộ máy chuyên trách công tác đào tạo.
    • Nhân tố bên ngoài: Chính sách đào tạo của cơ quan chủ quản (Nghị định số 101/2017/NĐ-CP); hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa; nguồn kinh phí (quỹ) đào tạo.
    • Nhân tố thuộc về bản thân viên chức: Động cơ học tập, ý thức tự tích lũy kinh nghiệm, khả năng tiếp thu.
  • Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo: Căn cứ Thông tư số 10/2017/TT-BNV của Bộ Nội vụ, bao gồm: tiêu chí về chương trình, tiêu chí về học viên, tiêu chí về giảng viên, tiêu chí về cơ sở vật chất, tiêu chí về khóa bồi dưỡng và hiệu quả sau bồi dưỡng.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận kết hợp giữa phân tích tài liệu thứ cấp và điều tra thực nghiệm sơ cấp:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
    • Nguồn nội bộ: Báo cáo tổng kết công tác tổ chức cán bộ, các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức của BHXH Thành phố Hà Nội và BHXH Việt Nam giai đoạn 2016–2018.
    • Nguồn bên ngoài: Các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Viên chức 2010, Luật BHXH 2014, Luật BHYT sửa đổi 2014, Nghị định 101/2017/NĐ-CP, Thông tư 10/2017/TT-BNV, Thông tư 01/2018/TT-BNV, Quyết định 2315/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội), các giáo trình chuyên ngành Quản trị nhân lực và bài báo khoa học.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
    • Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp các hoạt động thực hiện nghiệp vụ chuyên môn tại các phòng ban và cơ quan BHXH trực thuộc.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thực hiện khảo sát bằng phiếu điều tra gồm 15 câu hỏi đối với cán bộ, viên chức đã tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng.
    • Mẫu khảo sát: Phát ra 150 phiếu tại Văn phòng BHXH Thành phố Hà Nội và 04 cơ quan BHXH quận/huyện trực thuộc. Thu về 150 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 100%, không có phiếu bị loại).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh và dự báo, được tính toán và xử lý thông qua phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về công tác đào tạo cán bộ, viên chức trong tổ chức

Chương 1 tập trung hệ thống hóa khung lý luận về quản trị nhân sự công lập và công tác đào tạo trong đơn vị sự nghiệp:

  • Làm rõ sự khác biệt giữa công chức và viên chức theo quy định pháp luật Việt Nam; khẳng định hoạt động của viên chức gắn với cung cấp dịch vụ công và chuyên môn nghiệp vụ cụ thể theo vị trí việc làm.
  • Phân tích chi tiết quy trình 7 bước của công tác đào tạo cán bộ, viên chức; nêu rõ các nguyên tắc đào tạo theo Nghị định 101/2017/NĐ-CP (đào tạo căn cứ tiêu chuẩn ngạch, chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm; đề cao tinh thần tự học; công khai, công bằng, gắn lý luận với thực tiễn).
  • Trình bày hệ thống các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đào tạo trong đơn vị sự nghiệp.
  • Khái quát kinh nghiệm thực tiễn từ hai địa phương:
    • BHXH Thành phố Hồ Chí Minh: Tập trung xây dựng kế hoạch bám sát nhiệm vụ công tác; 6 tháng đầu năm 2018 đã tổ chức tập huấn cho 1.158 lượt viên chức, LĐHĐ (gồm 24 lớp chuyên ngành và 225 lượt bồi dưỡng chính trị, quản lý nhà nước); ưu tiên đào tạo viên chức trẻ có thâm niên dưới 5 năm; áp dụng khảo sát đánh giá ngay sau khóa học.
    • BHXH Thành phố Hải Phòng: Rà soát trình độ vào tháng 1 hàng năm để lập kế hoạch đào tạo sát thực tế; ban hành cơ chế hỗ trợ chi phí tự túc đi học và khen thưởng thích đáng; kết hợp đào tạo thông qua luân chuyển vị trí công tác khoa học (bố trí nhân sự chưa có kinh nghiệm làm việc cạnh nhân sự giàu kinh nghiệm).
  • Rút ra 5 bài học kinh nghiệm cho BHXH TP Hà Nội: kế hoạch hóa và khuyến khích tự học; đa dạng hóa chương trình đào tạo; đào tạo thông qua luân chuyển; chú trọng đào tạo tác phong, thái độ làm việc; ưu tiên bồi dưỡng lực lượng viên chức trẻ mới vào ngành.

Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo cán bộ, viên chức tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

Chương 2 phân tích bối cảnh tổ chức, số liệu đội ngũ và thực trạng thực hiện từng bước trong quy trình đào tạo tại BHXH TP Hà Nội giai đoạn 2016–2018:

Đặc điểm bộ máy và đội ngũ nhân lực:

  • Về cơ cấu tổ chức: Tính đến hết năm 2018, BHXH TP Hà Nội quản lý 44 đơn vị trực thuộc (gồm 14 phòng nghiệp vụ và 30 BHXH quận, huyện, thị xã).
  • Về quy mô nhân sự: Tại thời điểm 01/01/2019, tổng số công chức, viên chức, lao động hợp đồng là 1.382 người; trong đó viên chức là 1.250 người (chiếm 90,4%).
Chỉ tiêu phân loại Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Ghi chú / Đặc điểm nổi bật
Tổng số nhân sự (năm 2018) 1.382 100,00 Bao gồm 44 đơn vị trực thuộc
Giới tính nữ (năm 2018) 1.040 75,30 Tỷ lệ nữ cao qua các năm (2016: 72,7%; 2018: 75,3%)
Độ tuổi dưới 30 tuổi (năm 2018) 360 26,05 Giảm dần từ 30,95% (2016) xuống 27,5% (2017)
Độ tuổi từ 30 đến 50 tuổi - > 60,00 Chiếm tỷ trọng đa số và ổn định
Độ tuổi từ 50 tuổi trở lên - < 11,00 Tỷ lệ biến động quanh mức 10%
Trình độ Đại học và Sau đại học 1.175 85,02 Đứng đầu toàn ngành BHXH cả nước
Trình độ Thạc sĩ (Sau đại học) 170 12,30 Tăng từ 96 người (8,88%) năm 2016
Trình độ Lý luận chính trị (đã qua đào tạo) 191 13,82 Cao cấp: 58 người; Trung cấp: 133 người
Chưa qua đào tạo Lý luận chính trị 1.191 86,18 Đa phần viên chức chưa được đào tạo LLCT
Trình độ Quản lý Nhà nước (CV chính & cao cấp) 185 13,38 Chuyên viên chính tăng sau kỳ thi nâng ngạch 2018
Chứng chỉ ngoại ngữ đạt chuẩn quốc tế 155 11,62 Trên tổng số 1.334 người có chứng chỉ (B1, B2, TOEFL, IELTS)
Thâm niên công tác 10–15 năm - > 45,00 Lực lượng nòng cốt về chuyên môn và kỹ năng

Cơ cấu chuyên ngành đào tạo: Đội ngũ nhân lực có nguồn đào tạo đa dạng: chuyên ngành Tài chính - Kế toán chiếm 25,4%; nhóm ngành Kinh tế khác chiếm 36,8%; ngành Khoa học xã hội chiếm 4,6%; các ngành khác chiếm 14,0%. Sự thiếu đồng nhất này xuất phát từ lịch sử sáp nhập các cơ quan (BHYT Hà Nội, BHYT ngành Giao thông vận tải, Than, Dầu khí, BHXH tỉnh Hà Tây, BHXH huyện Mê Linh).

Kết quả khảo sát thực trạng công tác đào tạo (Mẫu 150 phiếu):

Nội dung khảo sát Tùy chọn phản hồi Số lượng phiếu Tỷ lệ (%)
Mức độ phù hợp công việc với năng lực Phù hợp với năng lực bản thân 113 75,33
Năng lực chưa đáp ứng yêu cầu công việc 28 18,67
Chưa phát huy hết khả năng bản thân 9 6,00
Mức độ tiếp cận thông tin đào tạo Thường xuyên 42 28,00
Bình thường 95 63,33
Ít khi 13 8,67
Lý do tham gia các khóa đào tạo Do cơ quan yêu cầu 129 86,00
Kết hợp yêu cầu cơ quan và nguyện vọng cá nhân 21 14,00
Hoàn toàn do nguyện vọng cá nhân 0 0,00
Đánh giá hình thức đào tạo Phù hợp 136 90,67
Không phù hợp 14 9,33
Nhu cầu đào tạo bổ sung theo lĩnh vực Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ 141 94,00
Bồi dưỡng Quản lý Nhà nước 53 35,33
Bồi dưỡng Lý luận chính trị 34 22,67

Đánh giá hạn chế trong công tác đào tạo của đơn vị:

  1. Công tác xác định nhu cầu: Chưa có bộ phận chuyên trách về đào tạo (Phòng Tổ chức cán bộ kiêm nhiệm); việc khảo sát nhu cầu đôi khi còn mang tính hình thức, chưa phân tích sâu theo khung năng lực từng vị trí việc làm.
  2. Công tác tổ chức và quản lý: Lịch đào tạo nhiều khi trùng vào các giai đoạn cao điểm chuyên môn của ngành; thời lượng một số khóa ngắn ngày chưa đủ để thực hành sâu.
  3. Cơ sở vật chất và công nghệ: Hạ tầng mạng và thiết bị CNTT phục vụ đào tạo tại chỗ còn yếu, thường xảy ra nghẽn mạng khi học viên truy cập đồng thời vào các phần mềm nghiệp vụ (như VSA, phần mềm giám định BHYT).
  4. Công tác đánh giá sau đào tạo: Mới dừng lại ở việc lấy ý kiến người học về công tác hậu cần (ăn, ở, tài liệu, thuyết trình của giảng viên), bỏ ngỏ khâu đánh giá mức độ chuyển hóa kiến thức vào hiệu quả công việc thực tế và tác động đến tổ chức.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo cán bộ, viên chức tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và các khuyến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện công tác đào tạo cán bộ, viên chức đến năm 2022:

1. Hoàn thiện quy trình đào tạo gắn với vị trí việc làm (Thiết kế lộ trình 3 giai đoạn):

  • Giai đoạn I (Đào tạo ban đầu): Dành cho viên chức mới được tuyển dụng hoặc tiếp nhận. Nội dung tập trung vào giới thiệu tổng quan hệ thống BHXH, đạo đức công vụ, văn hóa cơ quan và quy chế vận hành nội bộ. Kết thúc khóa đào tạo, cấp chứng chỉ hoàn thành khóa học cơ bản.
  • Giai đoạn II (Đào tạo theo vị trí việc làm): Bồi dưỡng chuyên môn, quy trình nghiệp vụ và kỹ năng vận hành các phần mềm ứng dụng chuyên sâu trực tiếp liên quan đến vị trí công tác; kết hợp thực hành tại chỗ. Học viên phải đạt chuẩn thao tác nghiệp vụ và được cấp chứng chỉ tương ứng.
  • Giai đoạn III (Đào tạo nâng cao, chuyên sâu): Dành cho viên chức đang thực thi nhiệm vụ nhưng cần cập nhật chính sách mới, nâng cao kỹ năng xử lý các tình huống phức tạp hoặc chuẩn bị cho quy hoạch lãnh đạo, quản lý. Cấp chứng chỉ hoàn thành khóa học nghiệp vụ chuyên sâu.

2. Hoàn thiện lựa chọn và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên:

  • Tiêu chuẩn hóa giảng viên tại các cơ sở đào tạo của ngành; giảng viên phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm thực tiễn quản lý và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm.
  • Xây dựng cơ chế kết hợp giảng viên cơ hữu của ngành với việc thuê ngoài các chuyên gia giàu kinh nghiệm.
  • Áp dụng cơ chế biệt phái giảng viên từ cơ sở đào tạo về công tác thực tế tại cơ quan BHXH địa phương để tích lũy kinh nghiệm thực tế.

3. Hiện đại hóa cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin:

  • Đầu tư đồng bộ phòng học chuyên dụng, nâng cấp đường truyền internet băng thông rộng phục vụ đào tạo thao tác trên phần mềm nghiệp vụ.
  • Đẩy mạnh triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo trực tuyến (E-learning), tạo điều kiện cho viên chức chủ động học tập mọi lúc, tránh gián đoạn công việc chuyên môn.

4. Nâng cao nhận thức và gắn đào tạo với quản trị nhân sự:

  • Tuyên truyền, quán triệt phương châm "học để làm việc, làm việc gì học việc nấy"; khắc phục tư tưởng đi học chỉ để hoàn thiện văn bằng, chứng chỉ.
  • Gắn kết quả đào tạo, bồi dưỡng với đánh giá xếp loại thi đua hàng năm, bổ nhiệm, quy hoạch và thực hiện lộ trình công danh của viên chức.

5. Hoàn thiện quy trình đánh giá chất lượng sau đào tạo:

  • Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá khoa học theo 4 nội dung: (1) Mức độ phù hợp của chương trình với tiêu chuẩn ngạch và vị trí việc làm; (2) Năng lực giảng viên và phương pháp giảng dạy; (3) Năng lực tổ chức lớp học; (4) Mức độ tiếp thu và khả năng ứng dụng thực tế của học viên vào vị trí công tác.
  • Thiết lập quy trình đánh giá qua 3 giai đoạn: trước đào tạo, trong quá trình đào tạo và sau khi hoàn thành khóa đào tạo (đo lường sự thay đổi hiệu quả công việc sau 3–6 tháng).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm các vấn đề lý luận về đào tạo nguồn nhân lực trong các đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam trong bối cảnh cải cách hành chính và hội nhập quốc tế.
  • Làm rõ các nguyên tắc, tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo và quy trình 7 bước khép kín của công tác đào tạo cán bộ, viên chức phù hợp với quy định hiện hành (Nghị định 101/2017/NĐ-CP và Thông tư 10/2017/TT-BNV).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, chi tiết về thực trạng chất lượng, cơ cấu nhân lực (độ tuổi, giới tính, chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học) của 1.382 công chức, viên chức, LĐHĐ thuộc BHXH Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016–2018.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế: 86% viên chức tham gia đào tạo thuần túy do yêu cầu cơ quan; tỷ lệ chưa qua đào tạo lý luận chính trị còn chiếm trên 80%; thiếu bộ phận chuyên trách đào tạo; khâu đánh giá sau đào tạo chưa đo lường được hiệu quả công việc.
  • Đề xuất mô hình đào tạo 3 giai đoạn theo vị trí việc làm và các giải pháp đồng bộ về giảng viên, hạ tầng công nghệ và đánh giá sau đào tạo có tính khả thi đối với cơ quan BHXH cấp tỉnh, thành phố.

Kiến nghị, giải pháp đề xuất

Đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam:

  • Tăng cường phân cấp quản lý công tác đào tạo cho BHXH cấp tỉnh; gắn phân cấp công việc với phân cấp tài chính và tổ chức cán bộ.
  • Bổ sung vị trí chuyên trách làm công tác đào tạo cán bộ, viên chức trong cơ cấu tổ chức của BHXH cấp tỉnh/thành phố.
  • Tăng dự toán kinh phí đào tạo, bồi dưỡng hàng năm cho cơ sở.
  • Nâng cao năng lực Trường Đào tạo Nghiệp vụ BHXH: đảm bảo sau năm 2022, đội ngũ giảng viên cơ hữu đảm nhiệm từ 70% trở lên thời lượng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng; đổi mới giáo trình theo hướng ngắn ngày, "cầm tay chỉ việc".

Đối với Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội:

  • Bổ sung viên chức ngành BHXH vào nhóm đối tượng ưu tiên được thụ hưởng chương trình đào tạo theo Quyết định số 2315/QĐ-UBND (Đề án nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức TP Hà Nội giai đoạn 2016–2020).
  • Hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất và chỉ đạo các cơ sở đào tạo thuộc thẩm quyền phối hợp đào tạo với BHXH Hà Nội.
  • Chỉ đạo Trung tâm bồi dưỡng chính trị các quận, huyện, thị xã tạo điều kiện tiếp nhận viên chức BHXH tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi không gian nghiên cứu khảo sát thực nghiệm tập trung tại Văn phòng BHXH Thành phố Hà Nội và 04 đơn vị BHXH quận/huyện với quy mô mẫu 150 phiếu, chưa bao quát toàn bộ 30 quận, huyện, thị xã trên địa bàn.
    • Dữ liệu định lượng và báo cáo thống kê chuyên môn phản ánh thực trạng chủ yếu trong giai đoạn 2016–2018.
    • Luận án chưa xây dựng được mô hình định lượng đo lường tác động dài hạn của công tác đào tạo tới năng suất lao động cá nhân do hạn chế về cơ sở dữ liệu theo dõi sau đào tạo tại đơn vị.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra trên toàn bộ hệ thống BHXH các quận, huyện, thị xã thuộc Thành phố Hà Nội.
    • Nghiên cứu xây dựng khung năng lực số và chương trình đào tạo trực tuyến thích ứng với quá trình chuyển đổi số toàn diện của ngành BHXH.
    • Nghiên cứu các mô hình lượng hóa mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo viên chức với mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp tham gia BHXH, BHYT.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan BHXH các địa phương và BHXH Việt Nam: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp đánh giá thực trạng nhân lực, quy trình xây dựng kế hoạch đào tạo 3 giai đoạn theo vị trí việc làm và phương thức thiết lập bộ tiêu chí đánh giá sau đào tạo.
  • Đối với các nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Quản trị nhân lực, Quản lý công: Bổ sung tư liệu nghiên cứu điển hình (case study) về đào tạo nhân sự trong các đơn vị sự nghiệp công lập chịu áp lực cải cách và tinh giản biên chế tại Việt Nam.
  • Phần đáng tham khảo nhất:
    • Hệ thống hóa quy trình 7 bước đào tạo và tiêu chí đánh giá theo Thông tư 10/2017/TT-BNV (Chương 1).
    • Bảng số liệu phân tích cơ cấu nhân lực và kết quả khảo sát 150 phiếu điều tra tại BHXH TP Hà Nội (Chương 2 và Phụ lục).
    • Mô hình lộ trình đào tạo 3 giai đoạn và nhóm kiến nghị phân cấp quản lý đào tạo cho BHXH cấp tỉnh (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ viên chức có trình độ đại học, trên đại học và trình độ lý luận chính trị tại BHXH TP Hà Nội trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu?
Tính đến ngày 31/12/2018, số viên chức có trình độ đại học và sau đại học của đơn vị là 1.175 người (chiếm 85,02%), trong đó trình độ thạc sĩ là 170 người (12,30%), đưa tổng tỷ lệ đại học và trên đại học đạt 97,32% (đứng đầu toàn ngành). Tuy nhiên, về lý luận chính trị, có tới 86,18% (1.191/1.382 người) chưa qua đào tạo; số người có trình độ cử nhân, cao cấp chỉ có 58 người và trung cấp là 133 người.

2. Điểm đáng lưu ý nhất về động cơ tham gia đào tạo của viên chức qua kết quả khảo sát là gì?
Kết quả khảo sát 150 phiếu điều tra cho thấy có tới 86,00% (129 người) tham gia các khóa đào tạo thuần túy do cơ quan yêu cầu; 14,00% (21 người) tham gia do kết hợp giữa yêu cầu cơ quan và nguyện vọng cá nhân; 0,00% tham gia hoàn toàn xuất phát từ nguyện vọng cá nhân.

3. Khảo sát thực tế chỉ ra nhu cầu bồi dưỡng nào của viên chức BHXH TP Hà Nội là cao nhất?
Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ chiếm tỷ lệ cao nhất với 94,00% (141/150 người khảo sát). Nhu cầu bồi dưỡng kiến thức Quản lý Nhà nước chiếm 35,33% (53 người) và nhu cầu bồi dưỡng Lý luận chính trị chiếm 22,67% (34 người).

4. Mô hình đào tạo theo vị trí việc làm được tác giả đề xuất gồm những giai đoạn nào?
Mô hình gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn I là đào tạo ban đầu cho viên chức mới tuyển dụng/tiếp nhận (kiến thức tổng quan, văn hóa công vụ, nội quy); Giai đoạn II là đào tạo theo vị trí việc làm (quy trình, thao tác phần mềm chuyên môn, thực hành tại chỗ); Giai đoạn III là đào tạo nâng cao và chuyên sâu (cập nhật chính sách mới, xử lý nghiệp vụ phức tạp, bồi dưỡng quy hoạch quản lý).

5. Luận án đề xuất chỉ tiêu cụ thể nào đối với đội ngũ giảng viên cơ hữu của Trường Đào tạo Nghiệp vụ BHXH?
Luận án kiến nghị BHXH Việt Nam nâng cao năng lực Trường Đào tạo Nghiệp vụ BHXH, xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu đảm bảo sau năm 2022 phải đảm nhiệm từ 70% trở lên thời lượng của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng do Trường thực hiện.


Kết luận

Luận án "Hoàn thiện công tác đào tạo cán bộ, viên chức của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đào tạo nhân lực trong đơn vị sự nghiệp công lập theo các quy định hiện hành của Nhà nước. Dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016–2018 và kết quả khảo sát sơ cấp 150 cán bộ, viên chức, tác giả đã phản ánh trung thực thực trạng công tác đào tạo, đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn về xác định nhu cầu, cơ sở vật chất, nhân lực chuyên trách và đánh giá sau đào tạo. Hệ thống giải pháp phân kỳ 3 giai đoạn gắn với vị trí việc làm cùng các khuyến nghị phân cấp tài chính, tổ chức đối với BHXH Việt Nam và UBND Thành phố Hà Nội có giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng thực thi chính sách an sinh xã hội tại thủ đô.