Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những quyền cơ bản của con người, đã được cộng đồng quốc tế công nhận tại Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 và Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Tại Việt Nam, trong thời kỳ chiến tranh và giai đoạn đầu xây dựng đất nước sau hòa bình, chính sách BHXH chủ yếu áp dụng trong phạm vi hẹp cho công nhân viên chức và lực lượng vũ trang thuộc khu vực nhà nước từ nguồn ngân sách. Sự bao cấp này bộc lộ nhiều bất cập và chưa đảm bảo tính công bằng xã hội đối với toàn thể lực lượng lao động.

Bước sang thời kỳ Đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (KVKTNQD) phát triển mạnh mẽ, thu hút đông đảo lực lượng lao động xã hội và đóng góp ngày càng lớn vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Để điều chỉnh quan hệ lao động mới, Nghị định 43/CP (1993) và tiếp đó là Bộ luật Lao động (1994) cùng Nghị định 12/CP (1995) đã mở rộng diện tham gia BHXH bắt buộc sang khu vực ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực tế, việc thực hiện chính sách BHXH tại khối doanh nghiệp này còn nhiều hạn chế: nhận thức của chủ sử dụng lao động và người lao động chưa đầy đủ, tình trạng trốn tránh, trì hoãn và chây ỳ đóng BHXH diễn ra phổ biến, khiến quyền lợi hợp pháp của người lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Trước yêu cầu cấp bách của thực tiễn, chuyên đề thực tập tốt nghiệp "Bảo hiểm xã hội ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh: thực trạng và giải pháp" do sinh viên Phan Bích Hà thực hiện (dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Nguyễn Văn Định tại Hà Nội, tháng 4 năm 2005) tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội, bản chất, vai trò của BHXH trong nền kinh tế thị trường và tính tất yếu của việc thực hiện BHXH đối với khu vực ngoài quốc doanh.
  2. Khái quát đặc điểm kinh tế - lao động của KVKTNQD và phân tích thực trạng tình hình thực hiện chính sách BHXH tại khu vực này giai đoạn 1995 - 2004.
  3. Đề xuất phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BHXH tại khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định chính sách, cơ chế quản lý và thực tiễn tổ chức thực hiện BHXH bắt buộc tại các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh.
  • Phạm vi nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian và nguồn tư liệu, tác giả tập trung khảo sát 4 loại hình đơn vị sản xuất kinh doanh nòng cốt cấu thành nên khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Việt Nam, bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh. Dữ liệu thực tiễn và thống kê tập trung vào giai đoạn 1995 – 2004.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Tác giả tiếp cận vấn đề dựa trên các quan điểm kinh tế học an sinh và hệ thống an toàn xã hội:

  • Khái niệm BHXH: Là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ không may gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo an toàn xã hội.
  • Bản chất của BHXH: Thể hiện qua 5 đặc trưng cốt lõi: là nhu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường; phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động ba bên (bên tham gia, bên bảo hiểm, bên được bảo hiểm); bảo vệ trước các rủi ro ngẫu nhiên (ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) và phi ngẫu nhiên (thai sản, tuổi già); bù đắp thu nhập từ quỹ tập trung do các bên đóng góp với sự bảo trợ của Nhà nước; hướng tới thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu theo khuyến nghị của ILO.
  • Phân định hệ thống bảo đảm xã hội: Làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa ba trụ cột: Bảo hiểm xã hội, Cứu trợ xã hội (dựa vào ngân sách dự phòng và từ thiện) và Ưu đãi xã hội (chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với người có công).
  • Khung pháp lý quốc tế và trong nước:
    • Quốc tế: Công ước ILO số 102 (1952), Tuyên ngôn Nhân quyền LHQ (1948), các Công ước ILO số 111 (1958), 128 (1967), 156 (1981), 158 (1982).
    • Việt Nam: Các Sắc lệnh 29/SL (1947), 76/SL và 77/SL (1950); Hiến pháp 1959; Nghị định 218/CP (1961); Nghị quyết Đại hội Đảng VII, VIII; Nghị định 43/CP (1993); Bộ luật Lao động 1994 và Luật sửa đổi bổ sung năm 2002; Nghị định 12/CP (1995); Nghị định 19/CP (1995 thành lập BHXH Việt Nam); Chỉ thị 15/CT-TW (1997); Quyết định 20/2002/QĐ-TTg; Nghị định 01/2003/NĐ-CP; Quyết định 02/2003/QĐ-TTg và Thông tư 49/2003/TT-BTC.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Nghiên cứu các quan điểm học thuật (như nhận định của Giáo sư Henri Kliller - Đại học Solvay, Bỉ), lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ sản xuất và hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước.
  • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh: Tổng hợp, phân tổ và so sánh chuỗi số liệu thứ cấp qua các năm (1995, 2000 - 2004) để đánh giá sự biến động về số lượng doanh nghiệp, quy mô vốn, lực lượng lao động, tổng mức bán lẻ và tỷ trọng đóng góp GDP giữa ba khu vực: Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
  • Nguồn dữ liệu: Niên giám Thống kê 2004 (Tổng cục Thống kê), kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp năm 2002 của Tổng cục Thống kê, Báo cáo tổng kết công tác năm 2003 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và tư liệu từ Vụ BHXH.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề về bảo hiểm xã hội ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta

Chương này tập trung làm rõ nguồn gốc lịch sử, bản chất, vai trò của BHXH và phân tích toàn diện bức tranh kinh tế của khu vực ngoài quốc doanh.

  1. Lịch sử hình thành và phát triển của BHXH:

    • Khởi nguồn từ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi quyền lợi sau Cách mạng Công nghiệp; các cột mốc quốc tế lớn: Đạo luật bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp tại Phổ năm 1838; các quỹ ốm đau tại Đức và Bỉ (1850, 1861); Đạo luật BHXH đầu tiên của Đức (1883); Đạo luật An sinh xã hội Hoa Kỳ (1935); Kế hoạch Beveridge (1942).
    • Tại Việt Nam: Khởi đầu từ các sắc lệnh giai đoạn 1947 - 1950, Điều lệ tạm thời theo Nghị định 218/CP (1961), đến thời kỳ đổi mới với việc hình thành hệ thống BHXH độc lập khỏi ngân sách nhà nước theo tinh thần Đại hội Đảng VII và Nghị định 12/CP.
  2. Vai trò nhiều mặt của BHXH:

    • Đối với người lao động: Đảm bảo ổn định thu nhập khi gặp biến cố giảm/mất khả năng lao động; tạo tâm lý an tâm trong công việc.
    • Đối với xã hội: Tăng cường gắn kết trách nhiệm ba bên (Nhà nước - NSDLĐ - NLĐ), thể hiện tinh thần tương thân tương ái và thực hiện điều tiết, phân phối lại thu nhập.
    • Đối với kinh tế thị trường: Giảm gánh nặng tài chính trực tiếp cho doanh nghiệp khi rủi ro xảy ra; hình thành quỹ tập trung nhàn rỗi để tái đầu tư phát triển; lành mạnh hóa quan hệ cung - cầu trên thị trường lao động.
  3. Khái niệm, phân loại và đặc điểm kinh tế của KVKTNQD:

    • Khái niệm: Toàn bộ các đơn vị sản xuất kinh doanh do tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư và quản lý. Phân loại theo hình thức tổ chức: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH (1 thành viên và 2 thành viên trở lên), Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp FDI, Doanh nghiệp tập thể/Hợp tác xã và Doanh nghiệp đoàn thể.
    • Các đặc điểm nổi bật qua số liệu thống kê:
      • Quy mô vốn: Phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn eo hẹp. Năm 2004, tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 0,5 tỷ đồng chiếm 99,4%; vốn từ 0,5 đến dưới 1 tỷ đồng chiếm 98,86%; vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm trên 90%.
      • Phân bố: Mất cân đối lớn giữa thành thị và nông thôn, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng. Quy mô lao động từ 5 người trở xuống chiếm tới 99,39%.
      • Tăng trưởng số lượng: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng từ 35.004 đơn vị năm 2000 lên 76.240 đơn vị năm 2004, luôn chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp cả nước.
      • Lực lượng lao động: Thu hút 1.040.902 lao động năm 2000 (chiếm 29,32%) và tăng mạnh lên 2.398.754 lao động năm 2004 (chiếm 39,32%). Đáng chú ý, chi phí đầu tư cho một chỗ làm việc trong khu vực ngoài quốc doanh chỉ bằng 1/3 so với khu vực nhà nước.
      • Đóng góp vĩ mô: Chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (năm 2004 đạt 294.134 tỷ đồng, tương đương 80,77%); đóng góp GDP theo giá thực tế năm 2004 đạt 352.166 tỷ đồng (chiếm 49,36% tổng GDP cả nước).
      • Tồn tại hạn chế: Công nghệ lạc hậu; chấp hành pháp luật chưa nghiêm (hơn 60% số hộ cá thể không có giấy phép kinh doanh, khoảng 14% doanh nghiệp kinh doanh sai nội dung đăng ký, tình trạng trốn lậu thuế và vi phạm an toàn lao động còn diễn biến phức tạp).
  4. Tính tất yếu và căn cứ pháp lý mở rộng BHXH:

    • Là yêu cầu bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo an toàn cho lực lượng lao động đang tăng nhanh ở khối tư nhân.
    • Cân đối tài chính quỹ BHXH: Báo cáo của cơ quan BHXH Việt Nam đưa ra dự báo đến khoảng năm 2022 số chi BHXH sẽ bắt kịp số thu trong năm; những năm sau đó phải dùng đến quỹ tồn tích và đến khoảng năm 2030 quỹ sẽ mất khả năng chi trả nếu không đẩy mạnh mở rộng đối tượng đóng góp từ khu vực ngoài quốc doanh.
    • Căn cứ pháp lý hoàn thiện qua các giai đoạn: Thí điểm tại 5 tỉnh/thành phố năm 1989; Nghị định 43/CP (1993); Nghị định 12/CP (1995); Luật sửa đổi Bộ luật Lao động 2002 và Nghị định 01/2003/NĐ-CP (bãi bỏ quy định giới hạn từ 10 lao động trở lên, mở rộng bắt buộc cho hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên).

Chương II: Tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta

Chương II đi sâu vào các chế độ chính sách áp dụng, công tác chỉ đạo của ngành BHXH và phân tích thực trạng tổ chức thực thi tại các địa phương.

  1. Khung chế độ BHXH áp dụng đối với khu vực ngoài quốc doanh:

    • Theo Bộ luật Lao động sửa đổi (2002) và Nghị định 01/2003/NĐ-CP, người lao động tại KVKTNQD làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và BHYT bắt buộc (theo Quyết định 20/2002/QĐ-TTg), bao gồm 5 chế độ:
      • Trợ cấp ốm đau: Điều kiện tham gia từ 3 tháng trở lên, hưởng mức trợ cấp bằng 85% tiền lương làm căn cứ đóng.
      • Trợ cấp thai sản: Điều kiện tham gia từ 3 tháng trở lên, không khống chế số lần sinh con.
      • Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Điều chỉnh khung trợ cấp tính theo lương bình quân đóng BHXH.
      • Hưu trí: Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu linh hoạt (nâng tuổi đối với lao động nữ quản lý/khoa học, giảm tuổi đối với lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại).
      • Tử tuất: Nâng mức trợ cấp tử tuất một lần (mỗi năm đóng bằng 1,5 tháng tiền lương bình quân đóng).
      • Bổ sung quy định về loại hình bảo hiểm thất nghiệp.
  2. Công tác chỉ đạo, điều hành của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam:

    • Chỉ đạo nghiệp vụ và ban hành văn bản: BHXH Việt Nam ban hành Công văn số 724/BHXH-QLT (1998), Công văn số 348/BHXH-QLT và Chỉ thị số 349/BHXH-QLT (1999), Công văn số 751/BHXH-QLT (2002) nhằm hướng dẫn quản lý thu, thanh tra và đôn đốc các tỉnh, thành phố.
    • Tổ chức triển khai: Tháng 3/1998 tổ chức hội thảo chuyên đề tại TP. Hồ Chí Minh với cơ quan thuế và doanh nghiệp; ngày 02/06/1998 tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai BHXH khu vực ngoài quốc doanh; tổ chức hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện để rút kinh nghiệm.
    • Các địa phương đạt kết quả tốt: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương, Thanh Hóa, Hà Giang, Hà Tây, Quảng Nam, Quảng Bình, Gia Lai, Thừa Thiên Huế, Thái Bình, Đà Nẵng.
  3. Thực trạng và những khó khăn, tồn tại:

    • Tỷ lệ bao phủ thấp: Tính đến ngày 31/12/2004, toàn quốc mới chỉ có 7,242 triệu người lao động tham gia BHXH trong tổng số khoảng 54,3 triệu người trong độ tuổi lao động (chiếm tỷ lệ chưa đầy 20%), thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới (Malaysia 90%, Đức 95%, Mỹ 95%). Khoảng 80% lực lượng lao động chưa được bảo hiểm tập trung chủ yếu ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
    • Hiện tượng vi phạm phổ biến: Nhiều chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh cố tình né tránh nghĩa vụ bằng cách ký hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng, khai báo giảm quỹ lương, chây ỳ nợ đọng đóng BHXH. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính chưa đủ sức răn đe.

Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn chính sách BHXH ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

Dựa trên thực trạng phân tích, tác giả đề xuất định hướng các nhóm giải pháp và kiến nghị trọng tâm:

  1. Hoàn thiện môi trường pháp lý và chính sách:

    • Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và ban hành Luật Bảo hiểm xã hội đồng bộ, tạo cơ sở pháp lý vững chắc và nâng cao hiệu lực thi hành đối với mọi thành phần kinh tế.
    • Quy định rõ ràng, khả thi các chế tài xử lý vi phạm; áp dụng triệt để quy định tại Quyết định 02/2003/QĐ-TTg và Thông tư 49/2003/TT-BTC (phạt lãi suất chậm nộp theo mức vay quá hạn của Ngân hàng Nhà nước, trích tiền trực tiếp từ tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp vi phạm).
    • Nghiên cứu thiết kế chính sách BHXH tự nguyện với các gói đóng - hưởng linh hoạt, phù hợp với đặc thù thu nhập bấp bênh của lao động phi chính thức và hộ cá thể.
  2. Đổi mới và tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền:

    • Thực hiện Chỉ thị 15/CT-TW, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn, báo chí để tuyên truyền sâu rộng về mục đích nhân văn, quyền lợi và nghĩa vụ tham gia BHXH cho cả chủ sử dụng lao động và người lao động.
    • Nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng, Công đoàn và đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
  3. Cải cách thủ tục hành chính và nâng cao năng lực tổ chức của cơ quan BHXH:

    • Đơn giản hóa quy trình đăng ký, kê khai, thu nộp và giải quyết chế độ chi trả, giảm thiểu phiền hà cho doanh nghiệp và người thụ hưởng.
    • Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ ngành BHXH các cấp.
  4. Tăng cường phối hợp liên ngành trong thanh tra, kiểm tra:

    • Thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa cơ quan BHXH, cơ quan Thuế, Sở Lao động - Thương binh & Xã hội và chính quyền địa phương trong việc rà soát giấy phép đăng ký kinh doanh, kiểm tra việc ký kết hợp đồng lao động và thực hiện trích nộp BHXH.

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp số liệu phát triển kinh tế của KVKTNQD (2000 - 2004)

Chỉ tiêu thống kê Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Số doanh nghiệp NQD (đơn vị) 35.004 44.314 55.236 65.425 76.240
Tỷ trọng trong tổng số DN cả nước (%) 82,37 - - - ~90,3
Số lao động trong DN NQD (người) 1.040.902 1.329.615 1.706.409 2.102.510 2.398.754
Tỷ trọng lao động trong khối DN (%) 29,32 - - - 39,32
Vốn SXKD hàng năm DN NQD (tỷ đồng) 98.348 142.202 202.341 280.001 402.153
Tổng mức bán lẻ & dịch vụ NQD (tỷ đồng) 177.744 200.363 224.436 252.117 294.134
Tỷ trọng trong tổng mức bán lẻ toàn quốc (%) 80,77 - - - 81,75
Đóng góp GDP của KTNQD (tỷ đồng) 212.879 230.247 256.413 281.314 352.166
Tỷ trọng đóng góp trong GDP cả nước (%) 48,20 47,84 47,86 46,45 49,36

(Nguồn: Trích xuất từ Niên giám Thống kê 2004 trong văn bản chuyên đề)

Đóng góp chính của chuyên đề

  • Về mặt lý luận: Khẳng định BHXH trong nền kinh tế thị trường không còn là chế độ đãi ngộ đơn phương từ ngân sách nhà nước mà là quan hệ bảo hiểm đóng - hưởng dựa trên sự cống hiến và trách nhiệm xã hội của các bên tham gia; chỉ rõ mối liên hệ giữa việc phát triển KVKTNQD với sự bền vững tài chính của quỹ BHXH quốc gia.
  • Về mặt thực tiễn: Hệ thống hóa toàn bộ tiến trình pháp lý điều chỉnh BHXH ngoài quốc doanh tại Việt Nam từ năm 1989 đến 2004; làm nổi bật sự mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng nhanh về số lượng doanh nghiệp/lao động với tỷ lệ tham gia BHXH rất thấp (chưa đầy 20% lao động cả nước được tham gia); đưa ra cảnh báo về nguy cơ mất cân đối quỹ vào năm 2022 và cạn kiệt vào năm 2030 nếu không mở rộng nhanh diện bao phủ sang khối tư nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Chuyên đề thực hiện trong khuôn khổ thời gian và nguồn dữ liệu năm 2005 nên chỉ tập trung phân tích sâu 4 loại hình cơ bản (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh); chưa đi sâu khảo sát diện rộng khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã phi nông nghiệp và các hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu đánh giá tác động sau khi Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội chính thức thông qua; phân tích mô hình tài chính và phương thức triển khai BHXH tự nguyện cho nhóm lao động tự do, lao động mùa vụ và khu vực kinh tế phi chính thức.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Bảo hiểm, Kinh tế lao động, Quản trị nhân lực, Luật kinh tế và Quản lý công.
  • Nội dung giá trị: Chuyên đề cung cấp nguồn tư liệu lịch sử - pháp lý chi tiết về giai đoạn bản lề chuyển dịch chính sách BHXH Việt Nam (giai đoạn 1993 - 2003) trước thềm ban hành Luật BHXH 2006, đồng thời cung cấp hệ thống số liệu kinh tế vĩ mô về khu vực ngoài quốc doanh giai đoạn 2000 - 2004.

Câu hỏi thường gặp

1. Căn cứ pháp lý nào lần đầu tiên quy định việc mở rộng BHXH bắt buộc sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh?
Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 của Chính phủ (áp dụng từ tháng 4/1993) là văn bản pháp quy đầu tiên quy định chế độ BHXH bắt buộc áp dụng cho người lao động làm việc hưởng lương hoặc tiền công tại các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có sử dụng từ 10 lao động trở lên.

2. Điểm mới căn bản của Luật Lao động sửa đổi (2002) và Nghị định 01/2003/NĐ-CP đối với đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là gì?
Các văn bản này đã bãi bỏ quy định khống chế quy mô doanh nghiệp phải có từ 10 lao động trở lên; mở rộng diện tham gia BHXH bắt buộc đối với tất cả người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn ở mọi loại hình doanh nghiệp, hộ kinh doanh, tổ hợp tác.

3. Cơ cấu quy mô vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm 2004 có đặc điểm gì nổi bật?
Phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vốn rất nhỏ: 99,4% số doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 0,5 tỷ đồng, 98,86% có vốn từ 0,5 đến dưới 1 tỷ đồng và trên 90% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 5 tỷ đồng.

4. Tại sao tác giả cảnh báo nguy cơ tài chính đối với quỹ BHXH quốc gia vào năm 2022 và 2030?
Theo dự báo của cơ quan BHXH Việt Nam được trích dẫn trong chuyên đề, nếu không mở rộng nhanh đối tượng tham gia đóng góp từ khu vực ngoài quốc doanh (nơi chiếm phần lớn trong số hơn 80% lao động chưa tham gia BHXH), thì đến khoảng năm 2022 số chi sẽ bằng số thu trong năm, sau đó phải sử dụng quỹ tồn tích và đến khoảng năm 2030 quỹ sẽ mất khả năng chi trả.

5. Lợi thế về chi phí tạo việc làm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh so với khu vực nhà nước được phản ánh như thế nào?
Chi phí đầu tư để tạo ra một chỗ làm việc mới tại khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chỉ bằng 1/3 so với chi phí đầu tư cho một chỗ làm việc tương đương trong khu vực kinh tế quốc doanh, giúp khu vực này có khả năng thu hút nhanh chóng lực lượng lao động dôi dư và lao động phổ thông.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đã luận giải một cách có hệ thống cơ sở lý luận và tính tất yếu khách quan của việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2000 - 2004, công trình đã làm rõ những đóng góp kinh tế to lớn của khu vực ngoài quốc doanh song song với những bất cập, hạn chế và nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH dài hạn do tỷ lệ tham gia của khối này còn quá thấp. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất mang tính đồng bộ từ hoàn thiện thể chế luật pháp, đổi mới công tác tuyên truyền đến tăng cường chế tài thanh tra và cải cách hành chính, đóng góp giá trị thiết thực cho công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội.