LỜI NÓI ĐẦU Bảo hiểm xã hội (BHXH) là nhu cầu tất yếu khách quan của ngƣời lao động. Nhu cầu đó đã xuất hiện khá sớm và phát triển theo quá trình phát triển xã hội. BHXH đã trở thành một những quyền của con ngƣời và đƣợc xã hội thừa nhận.1952,tổ chức lao động quốc tế(ILO) đã ký công ƣớc Giơnevơ (Công ƣớc 102) về “BHXH cho ngƣời lao động” đã khẳng định tính tất yếu phải triển khai các chế độ BHXH cho ngƣời lao động và gia đình họ. ở nƣớc ta BHXH đã có mầm mống từ thời phong kiến Pháp thuộc.
Trong chiến tranh và những năm sau hoà bình, do khả năng kinh tế có hạn chỉ có một bộ phận lao động xã hội đƣợc hƣởng chế độ BHXH. Đó là công nhân viên chức. Điều này đã không đảm bảo công bằng giữa những ngƣời lao động, thể hiện nhiều bất cập, không phù hợp.1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP về việc mở rộng đối tƣợng BHXH cho các thành phần kinh tế khác trong đó có doanh ngiệp ngoài quốc doanh (DNNQD), đánh dấu bƣớc đổi mới của BHXH Việt Nam. Chính sách BHXH trong các DNNQD đƣợc thực hiện không chỉ đảm bảo sự công bằng giữa những ngƣời lao động, sự gắn bó giữa ngƣời lao động với doanh nghiệp mà còn đảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế Lực lƣợng lao động trong các DNNNQ ngày càng phát triển, trở thành một bộ phận đáng kể trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội và là nhân tố quan trọng góp phần triển sự nghiệp BHXH.
Đảng và nhà nƣớc có chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tham gia BHXH. Bƣớc đầu triển khai cho kết quả rất khả quan. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bộc lộ nhiều yếu kém. Các đơn vị doanh nghiệp tham gia chƣa có sự hiểu biết rõ ràng về BHXH.
Họ chƣa coi việc BHXH là qƣyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. Do vậy họ tham gia chƣa tự giác và đầy đủ, thực hiện BHXH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối với khu vực ngoài quốc doanh còn chƣa phổ biến, đồng đều nên kết quả còn rất hạn chế. Đặc biệt với khối DNNQD thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhƣng lại cố tình trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ tham gia. Quyền lợi của ngƣời lao động không đƣợc đảm bảo.
cần phải có các giải pháp để cải thiện tình hình này, tạo cở sở thực hiện chích sách BHXH ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tốt hơn. Đây đƣợc coi là vấn đề bức xúc hiện nay. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng cuả vấn đề này, em đã chọn đề tài “Bảo hiểm xã hội ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh: thực trạng và giải pháp” để làm chuyên đề thực tập. Nội dung nội dung của chuyên đề bao gồm: Chƣơng I: Một số vấn đề về bảo hiểm xã hội ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nƣớc ta.
Chƣơng II: Tình hình thực hiện chính sách BHXH trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nƣớc ta. Chƣơng III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn chính sách BHXH ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Vì thời gian và nguồn tài liệu hạn chế nên em chỉ tập trung dề cập đến doanh nghiệp tƣ nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp doanh là phần cơ bản cấu thành nên khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình làm song chuyên đề tránh khỏi những hạn chế.
Em rất mong nhận đƣợc sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy cô để chuyên đề thực tập hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn sự hƣớng dẫn tận tình của thầy giáo PGS, TS Nguyễn Văn Định và sự giúp đỡ nhiệt tình của TS Đặng Anh Duệ, Trần Văn Luận cùng các anh chị các bộ Vụ BHXH đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Hà nội, tháng 4 năm 2005 Sinh viên thực hiện Phan Bích Hà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH I. Khái quát về bảo hiểm xã hội 1.
Sơ lược sự ra đời và lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tƣ bản. Kết quả này đã đƣợc các nƣớc trên thế giới ghi nhận và đều cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp. Qua nhiều năm nghiên cứu về BHXH, giáo sƣ Henri Kliller thuộc trƣờng đại học Sol ray của Bỉ đã khẳng định rằng nguồn gốc của BHXH xuất phát từ những vấn đề kinh tế, chính trị xã hội sau đây: Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo điều kiện cho chủ nghĩa tƣ bản ra đời và ngày càng lớn mạnh. Xã hội tƣ bản chủ nghĩa là hiện thân của quan hệ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất và sản xuất hàng hóa đã ra đời.
Kinh tế hàng hóa đã buộc các chủ tƣ bản phải thuê mƣớn lao động. Sản xuất hàng hóa càng phát triển thì nhu cầu thuê mƣớn ngày càng tăng lên và đội ngũ những ngƣời gia nhập đội quân làm thuê ngày càng đông. Vì vậy giai cấp công nhân cũng đã ra đời từ cuộc cách mạng công nghiệp. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thêu mƣớn nhân công trở nên phổ biến.
Giai cấp công nhân là giai cấp công nhân làm thuê cho giới chủ và đƣợc giới chủ. Lúc đầu giới chủ cam kết trả tiền lƣơng, tiền công. Ngƣời lao động bị bóc lột tàn bạo và bị đối xử không công bằng. Giờ làm việc của họ thƣờng bị kéo dài và cƣờng độ lao động rất cao nhƣng tiền công đƣợc trả rất thấp.
Hiện tƣợng ốm đau, tai nạn lao động xảy ra phổ biến. Và với tiền công đƣợc trả đó họ không thể đảm bảo cuộc sống của mình cũng nhƣ gia đình mình. Thêm vào đó, nhà nƣớc cũng nhƣ giới chủ không hề quan tâm hay giúp đỡ họ. Đứng trƣớc tình hình đó giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lập ra các quỹ cứu trợ ngƣời ốm, ngƣời bị tai nạn; lập các tổ chức tƣơng tế và vận động mọi ngƣời tham gia; đấu tranh tự phát với giới chủ nhƣ: đòi tăng lƣơng giảm giờ làm; thành lập các tổ chức công đoàn và sau này là đấu tranh có tổ chức nhƣng bị giới chủ đàn áp thậm tệ.
Giai cấp công nhân không đòi đƣợc quyền lợi mà còn bị tổn thất nặng nề. Mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ ngày càng trầm trọng và sâu sắc. Các cuộc đấu trang của giai cấp công nhân diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nƣớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hòa mâu thuẫn.
Sự can thiệp này một mặt làm tăng đƣợc vao trò của Nhà nƣớc, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đối với ngƣời làm thuê. Nhận thức đƣợc lợi ích của việc này nên cả giới chủ và thợ đều tham gia. Ngoài nguồn đóng góp của giới chủ, thợ để hình thành qũy còn có sự tham gia đóng góp bổ sung từ ngân sách Nhà nứơc khi cần thiết. Nguồn quỹ này nhằm đảm bảo đời sống cho ngƣời lao động khi không may gặp phải những biến cố bất lợi.
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của ngƣời lao động đƣợc dàn trải, cuộc sống của ngƣời lao động và gia đình họ ngày càng đƣạơc đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và đƣợc bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thƣờng, tránh đƣợc những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung đƣợc thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Đó chính là nguồn gốc sự ra đời của bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội ra đời và lan rộng rất nhanh. Quá trình phát triển của BHXH trải qua các mốc sau: + Năm 1838 chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở nƣớc Phổ (Cộng hòa liên bang Đức). + Năm 1850 và năm 1861 các quỹ ốm đau đƣợc thành lập ở Đức, Bỉ.
+ Năm 1883, nƣớc Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH. + Năm 1894 và 1896 nƣớc Bỉ và Hà Lan đã đƣợc ban hành Bộ luật đấu tiên về các tổ chức tƣơng tế. + Ở Mỹ, đạo luật đầu tiên về An sinh xã hội( trong đó BHXH là hạt nhân) đƣơch ban hành vào năm 1935. Trong đạo luật này có quy định về chế độ bảo hiểm tuổi già, tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp cho ngƣời lao động.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II (1940-1945) có 3 sự kiện lớn đánh dấu quá trình ra đời và phát triển BHXH, đó là: - Tổ chức lao động quốc tế đã tổ chức thảo luận một số vấn đề liên quan đến BHXH nhƣ: tàn tật và sinh đẻ liên quan đến lao động nữ. Vấn đề tử tuất của các binh sỹ trong chiến tranh. - Luật BHXH ở Mỹ đã đƣợc thông qua. - Kế hoạch Beveridge (1942) đã đƣợc Chính phủ Bỉ thông qua để chuẩn bị thành lập hệ thống BHXH ở Bỉ.
+ Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng liên hiệp quốc Tuyên ngôn nhân quyền và trong đó có đoạn: "Tất cả mọi ngƣời với tƣ cách là thành viên của xã hội, có quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con ngƣời”. + Ngày 25/6/1952, hội nghị toàn thể của tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã thông qua công ƣớc số 102 (công ƣớc về an sinh xã hội). Nội dung công ƣớc đƣợc tập hợp từ các chế độ và các vấn đề an sinh xã hội đã có và thực hiện ở một số nƣớc trên thế giới trƣớc đó. Sau công ƣớc số 102 đến nay hầu hết các nƣớc ở Châu á, Châu Phi và Châu Mỹ la tinh đều xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội; phù hợp với tƣơng quan lực lƣợng giữa giới chủ và giới thợ và phù hợp với thể chế chính trị trong mỗi thời kỳ ở từng nƣớc.