Chương 1: Giới thiệu luận án; Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu; Chương 5: Hàm ý chính sách và kết luận. 12 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan nghiên cứu 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu bảo hiểm vi mô Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng, đã có một số lượng khá lớn các công trình nghiên cứu trước đây về BHVM nói chung và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia BHVM nói riêng.
Trong khuôn khổ phần tổng quan này, tác giả sẽ trình bày những nghiên cứu tiêu biểu và có giá trị nhất. Các nghiên cứu này tiếp cận trên nhiều hướng và quan điểm khác nhau, hàm lượng khoa học và mức độ nghiên cứu cũng khác nhau. Dựa vào những nghiên cứu này, cùng với cơ sở lý luận và việc cân nhắc điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu của mình. Các nghiên cứu về bảo hiểm vi mô dưới góc độ một công cụ tài chính nhằm quản trị rủi ro, phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội Cho đến nay, trên thế giới, nghiên cứu về tác động của tài chính vi mô và thậm chí là bảo hiểm vi mô đối với sự phát triển kinh tế, xã hội đã nhận được sự quan tâm nhất định.
Claessens (2006) cho rằng rằng tiếp cận các dịch vụ tài chính, bảo hiểm như là một khía cạnh quan trọng của sự phát triển, và việc mở rộng các dịch vụ tài chính cho các hộ gia đình có thu nhập thấp đang được chú trọng hơn. Một số học giả lập luận rằng, những hạn chế về tài chính bao gồm cả việc thiếu bảo hiểm, là nguyên nhân khiến người nghèo bị mắc kẹt trong nghèo đói (Dercon, 2004; Carter và Barrett, 2006). Sica và Testa (2009) khám phá mối quan hệ giữa tài chính vi mô và phát triển đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện các chính sách tài chính vi mô. Belwal et al.
(2012) cho rằng tài chính vi mô cải thiện tình hình kinh tế của các nữ doanh nhân. Chandhok (2009) cho rằng “thông qua bảo hiểm vi mô, nghèo đói có thể được xóa bỏ, dẫn đến sự phát triển của đất nước”. Ngoài ra, London et al. (2010) đề cập đến việc thiếu bảo hiểm là một trong những hạn chế tài chính mà các nhà sản xuất trang trại BoP phải đối mặt ngày nay.
Hamid et al. (2011a) tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa bảo hiểm vi mô và giảm nghèo. Kovacevic và Pflug (2011) lập luận rằng thông qua bảo hiểm rủi ro từ những cú sốc thảm khốc làm giảm khả năng người nghèo rơi vào bẫy nghèo. Là một công cụ phân bổ rủi ro, được tài trợ chủ yếu bằng phí bảo hiểm, bảo hiểm vi mô liên quan đến việc phân phối lại thu nhập theo chiều ngang giữa các đối 13 tượng có hồ sơ rủi ro tương đương, thay vì phân phối lại theo chiều dọc từ người giàu sang người nghèo.
Đồng thời, tiền tố “vi mô” chỉ ra rằng tỷ lệ đóng góp phù hợp với người có thu nhập thấp, với các lợi ích hạn chế tương ứng (Loewe, M. Nếu được thiết kế phù hợp, bảo hiểm vi mô sẽ tạo thành một phương tiện hiệu quả để cung cấp cho người lao động trong nền kinh tế phi chính thức các biện pháp bảo vệ xã hội. Bằng cách này, nó có khả năng góp phần thu hẹp khoảng cách về diện bao phủ tồn tại với các chương trình bảo trợ xã hội đang hoạt động ở các nước đang phát triển. Các nghiên cứu thực nghiệm từ Bangladesh và Ấn Độ cung cấp bằng chứng cho thấy bảo hiểm vi mô có thể (mặc dù không phải lúc nào cũng vậy) có tác động tích cực đáng kể đến một số khía cạnh của nghèo đói đa chiều (Hamid và cộng sự, 2010).
Ngoài ra, bảo hiểm vi mô cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc trao quyền cho các thành viên. Các hợp đồng bảo hiểm vi mô thường là sản phẩm của cuộc đối thoại giữa các nhà cung cấp và các nhóm mục tiêu, trong khi các chương trình bảo trợ xã hội công cộng thường được tạo ra bởi các quy trình hoàn toàn từ trên xuống. Do đó, bảo hiểm vi mô có thể đáp ứng các nhu cầu và sở thích cụ thể của những người có thu nhập thấp. Ngoài ra, các dự án bảo hiểm vi mô thành công còn có tác dụng chứng minh: chúng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ trước rủi ro và ngăn chặn trước những hậu quả có thể xảy ra nếu chúng thực sự thành hiện thực.
Tương tự như vậy, sự hợp tác trong các nhóm có thể tăng cường các cơ hội và vị trí của cá nhân (Loewe, M. Một khía cạnh của bảo hiểm để quản lý rủi ro đối với các hộ gia đình có thu nhập thấp là BHVM. Bảo hiểm vi mô là công cụ bảo vệ người lao động trong nền kinh tế phi chính thức trước những rủi ro cụ thể để đổi lấy các khoản thanh toán phí bảo hiểm định kỳ tương ứng với xác suất và chi phí của rủi ro liên quan (Churchill, 2007). Nó được xem xét bởi nhiều bên liên quan, chẳng hạn như Tổ chức Lao động Quốc tế, như một công cụ vô giá để cải thiện an sinh xã hội cho các hộ gia đình có thu nhập thấp.
Các chương trình BHVM được vận hành ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Chúng bảo vệ những người có thu nhập thấp trước những rủi ro khác nhau như rủi ro sức khỏe, rủi ro vòng đời, thiệt hại tài sản, trách nhiệm của bên thứ ba và thất bại trong thu hoạch (Loewe, M. Xem xét vai trò của bảo hiểm vi mô trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu đối với sự phát triển kinh tế, xã hội cũng là một hướng nghiên cứu được quan tâm. Kenjiro (2005) lập luận rằng tình hình kinh tế của người nghèo mong manh hơn do các cú sốc bệnh tật hơn là các yếu tố thời tiết.
Tuy nhiên, thời tiết vẫn là yếu tố gây ra nhiều rủi ro đối với cuộc sống của người thu nhập thấp (World Bank, 2001; Patt A và 14 cộng sự, 2010; Liu B và cộng sự, 2010). Leftley R (2009), World Bank (2000), Akter và cộng sự (2012) đã đưa ra các giải pháp thay thế thích ứng được cung cấp bởi bảo hiểm vi mô để có thể làm giảm tính dễ bị tổn thương trước rủi ro thời tiết, đảm bảo cho sự phát triển. Barnett và cộng sự (2008), Dı´az Nieto J và cộng sự (2012) dựa vào chỉ số thời tiết để thiết kế sản phẩm BHVM cho nông dân sản xuất nhỏ ở vùng nhiệt đới. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về cách thức triển khai, tổ chức hoạt động của tổ chức bảo hiểm vi mô và phát triển thị trường bảo hiểm vi mô đã được đề cập tới, tuy chưa nhiều.
Tran và Yun (2004) nghiên cứu hoạt động của một tổ chức bảo hiểm vi mô, đánh giá tình hình triển khai và lập kế hoạch chiến lược của tổ chức bảo hiểm vi mô. Alip và David-Casis (2008) đã thực hiện đánh giá môi trường hoạt động của bảo hiểm vi mô tại Việt Nam, là nước có thị trường bảo hiểm vi mô chưa phát triển. Nguyễn Văn Thành (2011) bàn về việc thúc đẩy bảo hiểm nhân thọ vi mô tại Việt Nam. Nguyễn Thị Hải Đường (2012) đã phân tích, đánh giá về môi trường pháp lý cho hoạt động của bảo hiểm vi mô đồng thời nhằm tìm ra giải pháp cho việc phát triển thị trường bảo hiểm vi mô Việt Nam.
Đỗ Thị Diên (2017) đã tổng kết một số kinh nghiệm triển khai BHVM tai một số nước cho thị trường bảo hiểm vi mô tại Việt Nam. Nguyễn Thành Vinh (2022a) đã nêu ra thực trạng triển khai bảo hiểm vi mô, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển loại hình bảo hiểm này tại Việt Nam. Nguyễn Thành Vinh (2022b) đề cập tới những vấn đề pháp lý đối với việc triển khai bảo hiểm vi mô tại Việt Nam. Nguyễn Thành Vinh (2023) trao đổi về việc thúc đẩy triển khai bảo hiểm vi mô nhằm hỗ trợ hệ thống an sinh xã hội.
Điểm chung của các nghiên cứu này là đi vào phân tích tổng hợp trên khía cạnh thị trường, dưới góc độ quản trị rủi ro và dựa trên phân tích dữ liệu thứ cấp. Các nghiên cứu về nhu cầu bảo hiểm vi mô dựa trên lý thuyết nghiên cứu Trong hoạt động nghiên cứu bảo hiểm vi mô, đã có một số mô hình lý thuyết được áp dụng để nghiên cứu việc ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn. Lý thuyết tiện ích dự kiến EUT (Expected Utility Theory) là lý thuyết tiên đề về sự lựa chọn trong điều kiện rủi ro và giữ vai trò trung tâm trong lý thuyết kinh tế kể từ những năm 1940. Lý thuyết này đã được sử dụng làm nền tảng cho các mô hình nghiên cứu về nhu cầu bảo hiểm dựa trên rủi ro đồng thời cũng cung cấp một cơ sở so sánh chung cho các mô hình khác nhau.
Trong nghiên cứu bảo hiểm, Borch và Mossin (1968) gọi lý thuyết này dưới sự ác cảm rủi ro là “Nguyên lý Bernoulli” nhằm ghi nhớ đến luận thuyết nổi tiếng của Bernoulli (1738). Các nghiên cứu dựa trên Lý thuyết tiện ích dự kiến đã được dùng để giải thích nhiều hoạt động bảo hiểm trong thực tế như xác 15 định tỷ lệ san sẻ rủi ro, tỷ lệ khấu trừ, thiết kế hợp đồng bảo hiểm.Theo lý thuyết này, trong mối liên hệ với ác cảm rủi ro, nhu cầu bảo hiểm được xác định trên việc tối đa hóa lợi ích kỳ vọng dựa vào một các yếu tố như tuổi thọ, kỳ vọng sống, thu nhập …. Lý thuyết này dự đoán rằng nhu cầu bảo hiểm gia tăng cùng với tài sản. Trong nghiên cứu về việc phát triển các thang đo về việc lo ngại rủi ro, Arrow (1965), Pratt và cộng sự (1964) lại nhận thấy tài sản và nhu cầu bảo hiểm có liên hệ tỷ lệ nghịch.
Theo Mossin (1968), nếu phương pháp đo lường của Arrow-Pratt với mức độ hoàn toàn lo ngại rủi ro thì khi tài sản gia tăng và phí bảo hiểm là khả thi trong điều kiện các yếu tố được tính toán cân bằng (giá trị tài sản hay phân bổ tổn thất) thì mức độ khấu trừ cũng tăng và chi phí một người sẵn sàng trả để mua bảo hiểm sẽ giảm đi.