chương 1 cũng trình bày sơ lược về phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là phương pháp cứu định lượng sẽ được sử dụng trong phạm vi bài nghiên cứu này, thông qua đó làm cơ sở lý luận để tác giả phân tích ở những chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm 2.1 Khái niệm Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012) [6] định nghĩa tiền gửi tiết kiệm là “hình thức huy động vốn chủ yếu khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng với mục đích sinh lời và an toàn về tài sản”. Cũng theo Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012): “Người gửi tiền: là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm. Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm: là người đứng tên trên sổ tiết kiệm.
Giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm: là giao dịch gửi, rút tiền gửi tiết kiệm và các giao dịch khác liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Tài khoản tiền gửi tiết kiệm: đứng tên một cá nhân hoặc người đồng sở hữu, dùng để tiến hành các giao dịch về tiền gửi tiết kiệm. Kỳ hạn gửi tiền: là khoảng thời gian kể từ ngày người gửi tiền bắt đầu gửi tiền vào NH đến ngày NH cam kết trả hết tiền gốc và lãi tiền gửi tiết kiệm. Lãi suất tiết kiệm do NH quy định cho từng hình thức tiền gửi tiết kiệm phù hợp với lãi suất thị trường, lãi suất sẽ được điều chỉnh theo biến động trên thị trường.
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm được tính theo ngày” 2. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm Vì gửi tiết kiệm cũng được cho là một hình thức đầu tư, do đó, tiền gửi tiết kiệm cũng mang những đặc trưng cụ thể như sau: - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cụ thể: KH sẽ phải lựa chọn giữa các mức gửi 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng.nếu gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn; và không phải lựa chọn giữa các mức gửi nếu gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn. - Tiền gửi tiết kiệm có khả năng sinh lãi suất: Với các kỳ hạn khác nhau sẽ quy định các mức lãi suất không giống nhau. Tuy lợi nhuận thu lại từ tiền gửi tiết 8 kiệm không cao nhưng đảm bảo ổn định và ít rủi ro hơn so với đầu tư chứng khoán hay bất động sản.
- Tiền gửi tiết kiệm được quản lý thông qua sổ tiết kiệm: Sổ tiết kiệm là giấy tờ chứng minh số tiền gửi tiết kiệm đồng thời giúp KH quản lý tài khoản tiết kiệm hiệu quả. - Tiền gửi tiết kiệm mang tính ổn định, an toàn: Gửi tiết kiệm có không quá nhiều quy định, thủ tục khắt khe mà vẫn tận dụng được khả năng sinh lợi vốn có của tiền. Căn cứ những đặc điểm nêu trên, thông thường KH thường chọn gửi tiền tiết kiệm ở những NH có uy tín với mức lãi suất hấp dẫn; có hình thức giao dịch thuận tiện, tiết kiệm thời gian, và cân nhắc kỹ để chọn kỳ hạn hợp lý, để không thiệt thòi khi phải rút tiền trước hạn. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm - Đối với nền kinh tế: Nguồn tiền gửi tiết kiệm từ người dân vào hệ thống NH cùng với nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội, tiền gửi tiết kiệm NH tạo nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Đây là nguồn vốn của thị trường giúp ổn định và an toàn cho thanh khoản của hệ thống NH. Với nguồn lực này, các NHTM biến vốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động, tiếp tục phân bổ đầu tư vào các dự án quan trọng của đất nước như phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thủy điện,…để thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế - Đối với ngân hàng: Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu để thực hiện các nghiệp vụ sinh lời của NH như cho vay, đầu tư, cung cấp các dịch vụ thanh toán. Với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, đa dạng các sản phẩm dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh và lợi nhuận thì vốn có vai trò quan trọng để NH tổ chức mọi hoạt động kinh doanh; quyết định quy mô hoạt động tín dụng của NH; quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của NH; quyết định năng lực cạnh tranh của NH. 9 - Đối với người gửi tiền: Đối với các cá nhân: Trước tiên, họ nghĩ đến việc bảo quản số tiền tạm thời nhàn rỗi của họ như thế nào cho an toàn.
Sau đó, những người này tính đến việc tìm kiếm lợi nhuận từ số tiền nhàn rỗi chưa sử dụng đến và sử dụng những tiện ích do NH cung ứng. Thời hạn gửi dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít là tuỳ thuộc khoản vốn của họ nhàn rỗi được bao lâu, lãi suất của các loại tiền gửi so với các hình thức đầu tư khác và những dịch vụ mà NH cung ứng có tiện lợi hay không. Đối với các tổ chức kinh tế: Khi tiến hành hoạt động kinh doanh, hầu như tiền của họ để tại NH là chủ yếu, họ gửi tiền vào NH không phải với mục đích tìm kiếm thu nhập mà chủ yếu là để sử dụng các dịch vụ tiện ích của NH, nhờ NH tiến hành thanh toán hộ các khoản phải trả và thu hộ các khoản phải thu của KH hoặc nhập vào tài khoản theo lệnh của họ. Rủi ro khi gửi tiết kiệm tại ngân hàng Gửi tiền tiết kiệm được đánh giá là một trong những cách an toàn và hiệu quả với những người không có nhu cầu đầu tư.
Tuy nhiên, NH cũng không phải là nơi gửi tiền an toàn tuyệt đối và còn nhiều kẽ hở để cho kẻ gian lợi dụng chiếm đoạt hoặc do nhân viên NH hoặc KH không tuân thủ đúng quy trình, quy định khi gửi tiền thì rủi ro gần như sẽ xảy ra (Ví dụ: Nhân viên hoặc đối tượng khác điền thêm thông tin vào để rút ruột tiền gửi của KH theo nhiều cách khác nhau, KH mất tiền gửi tiết kiệm do cán bộ NH lợi dụng mối quan hệ cá nhân hình thành suốt thời gian giao dịch lâu dài với KH, tạo niềm tin về uy tín, quyền hạn, luôn sẵn sàng ký tất cả những gì mà KH yêu cầu hoặc nhân viên NH tin tưởng KH, cho rút tiền trước, bổ sung chữ ký và hồ sơ sau) 2. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 2. Nghiên cứu của nước ngoài Đề tài nghiên cứu về hành vi lựa chọn gửi tiền của khách hàng là một chủ đề được giới học giả trong nước và quốc tế quan tâm. Cách tiếp cận của các nghiên cứu có sự khác biệt nhau tùy theo lĩnh vực của học giả.
10 Kennington và cộng sự (1996) [12] trong nghiên cứu "Consumer Selection Criteria for Banks in Poland." International Journal of Bank Marketing 14(4): 12- 21, đã chỉ ra rằng uy tín, giá cả và dịch vụ là các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng. Trong bài nghiên cứu “Financial development and economic growth: Evidence from Northern Cyprus”, International Research Journal of Finance and Economics 8 (2), 57-62, của O. Safakli (2007) [17], những yếu tố cần được quan tâm bao gồm: Chất lượng và hiệu quả của dịch vụ, hình ảnh của NH, sự thuận tiện, năng lực tài chính của NH và ý kiến của người quen. Khi tìm hiểu về sự lựa chọn của đối tượng chỉ sử dụng một NH và đối tượng sử dụng nhiều NH cùng lúc tại Malaysia, Mokhlis (2009) [18] trong nghiên cứu “Relevancy and measurement of religiosity in consumer behavior research”, International Business Research, Vol.
75-84, cho rằng những yếu tố sau có tác động và mức độ ảnh hưởng theo chiều giảm dần, bao gồm: Sự an tâm, dịch vụ ATM, Sự thuận tiện, Lợi ích tài chính, vị trí NH, hình thức quảng cáo và ưu đãi, ảnh hưởng của người thân. Nghiên cứu của Ukenna và cộng sự (2012) [19] trong nghiên cứu “Analysis of the influence of gender on the choice of bank in southeast Nigeria”. International Journal of Business and Management, 7(3), 230, xác định rằng yếu tố nhân khẩu như giới tính cũng ảnh hưởng tới việc lựa chọn NH tại Đông Nam Nigeria. Nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, số lượng các nghiên cứu về đề tài này cũng tương đối lớn, tuy nhiên tập trung từ khoảng thời gian 2010 trở đi.
Nguyên nhân là vì trước đó, hoạt động NH bán lẻ chưa được quan tâm như hiện nay, các NH chủ yếu tập trung vào hoạt động bán buôn. Sau những biến động về kinh tế và sự thay đổi trong quy định của pháp luật, dịch vụ NH bán lẻ mới trở thành trọng tâm mới của các NH, đồng thời các nghiên cứu có liên quan mới thực sự phát triển. Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn NH của Phạm Thị Tâm (2010) [4] đã chỉ ra rằng các yếu tố sau ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn NH theo 11 mức độ giảm dần: Yếu tố nhận biết thương hiệu, sự thuận tiện về vị trí, phản hồi khi có sự cố, ảnh hưởng của người thân. Nielsen (2010) [1] đã xây dựng thiết kế nghiên cứu để khảo sát tài chính cá nhân bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, phỏng vấn mặt đối mặt khách hàng có độ tuổi từ 18 -50 tuổi tại TP.HCM và Hà Nội.
Kết quả khảo sát tài chính cá nhân là: lý do chính chọn ngân hàng gửi tiết kiệm là: Lãi suất huy động cạnh tranh (60%), ngân hàng uy tín 56%, được nhiều người giới thiệu 57%, dịch vụ khách hàng tốt 50% Nguyễn Quốc Nghi (2011) [3] “Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngân hàng để gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân”. Kết quả của nghiên cứu cho thấy có 3 nhân tố là sự tin cậy; phương tiện hữu hình và khả năng đáp ứng ảnh hưởng đến quyết định chọn NH để gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó gồm có các biến sau: lãi suất hợp lý; phí phát sinh trong quá trình sử dụng dịch vụ; mức độ an toàn của NH; trang phục nhân viên thanh lịch, gọn gàng; cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại và thực hiện giao dịch nhanh, biến “thực hiện giao dịch nhanh” là biến có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất.