Chương 1, để tài tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản sau đây: 1. NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC NGÀNH DỌC: 1. Quan niệm chung về tổ chức ngành đọc. Ở phần này, để tài chủ yếu tập trung nêu các quan niệm vẻ ngành đọc và tổ chức ngành đọc.
Xét trên góc độ tổ chức, đề tài đưa ra hai quan niệm về tổ chức ngành đọc sau đây: + Quan niệm về tổ chúc ngành dọc hoèn chỉnh: "Thiết lập hệ thống tổ chức theo ngành đọc xuyên suốt từ Trung ương: ' đến địa phương theo các cấp hành chính và đơn vị hành chính. - Quan niệm về tổ chức ngành dọc không hoàn chỉnh: “Thiết lập tổ chức ngành đọc không bao quát toần ngành, không thành hệ thống dọc xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. ~ Quan niệm chung về tổ chức ngành đọc: Tổ chức ngành đọc được thiết lập dựa trên cơ sở lý luận về tập quyền - quấn lý tập trung, phân quyên - quần lý phì tập trung và tân quyên - nỷ quyền của Trung ương đặt tại các địa phương theo yêu cầu chức năng, nhiệm vụ quản lý đồi hôi. Từ quan niệm về ngành dọc và tổ chức ngành doc, dé tai dua ra các đặc trưng của tổ chức ngành dọc như sau: + Tổ chức ngành dọc dược tổ chức thành hệ thống từ Trung ương xuống địa phương, tương ứng với đặc điểm; tính chất của đối lượng quản lý ngành dọc.
Hình thức hay mô hình tổ chức ngành đọc có thể theo cấp hành chính và đơn vị hành chính hoặc có thể theo khu vực. + Tổ chức ngành đọc là tổ chức do Trung ương quần lý, tổ chức bo may đối với hệ thống ngành dọc; còn địa phương không có chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy đối với ngành dọc đó. + Tổ chức ngành dọc được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc trực tuyển; các tổ chức ngành dọc ở cấp đưới quan hệ với, cấp trên liên kế theo nguyên tắc trực thuộc; nhưng đồng thời vẫn chịu sự chỉ đạo, điều hành chung của cơ quan quản lý ngành đọc ở Trung ương. + Các tổ chức ngành dọc đặt ở địa phương dù ở cấp não đều có từ cách pháp nhan đây đủ, có con dấu, tài khoản, trụ sở, bộ máy của mình.
Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy đo cơ quan quản lý ngành đọc ở Trung ương quy định. + Tổ chức ngành đọc được tổ chức thành lực lượng để thực thỉ chức năng, nhiệm vụ của toàn ngành. Lực lượng thực thỉ này là các tổ chức chuyên trách, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sáu. Hoạt động của nó gắn liên trực , tiếp với các đối tượng quân lý tại địa phương.
Những cơ sở khoa học làm căn cứ để tổ chức ngành đọc. Việc tổ chức ngành dọc cần dựa trên những cơ sở khoa học sau đây: 1. Cơ sở tý luận dể tổ chức ngành đạc. Những cơ sở lý luận cơ bán làm cần cứ tổ chức ngành dọc bao gồm: 11 Tổ chức ngành đọc dựa trên cơ sở lý luận về phân công - phân cấp quản lý theo tập quyền, tin quyên và mối quan hệ giữa Trung wong va dia phương, a - Tập quyền, phân quyển, tân quyền với việc tổ chức ngành dọc.
b- Mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương với việc tổ chức ngành dọc. 2/T6 chite ngành dọc dựa trên cơ sở xác định chức năng, nhiệm vụ, nội dùng hoạt động, đối tượng và phạm ví quản lộ: a - Về chức năng, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của tổ chức ngành đọc. b - Xác định đối tượng quản lý của tổ chức ngành đọc. e - Phạm vi quản lý để tổ chức ngành đọc.
Cơ sở pháp lý để tổ chức ngành dọc: Xem xét cơ sở pháp lý trên hai góc độ: - Tạo khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ, đây đỏ, đảm bảo lính thống nhất, không mâu thuẫn, không trái với các quy định của pháp luật. ~ Thường xuyên đánh giá, tổng kết thực tiến việc thực hiện các văn bắn phấp luật đã ban hành để có kết luận làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh hoặc bãi bỏ những quy định sai, không hợp lý, không còn phù hợp với thực tiễn.3, Cơ sở thực tiễn để tổ chức ngành đọc. Tổ chức ngành đọc phải đựa vào cơ sở thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, thông qua thực tiễn kiểm nghiệm thì cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý mới có ý nghĩa và được khẳng định. Khi nghiên cứu, phân tích các cơ sở luận cứ và vận dụng vào tổ chức ngành đọc cần phải đảm bảo tính tổng thể, đây đủ, đồng bộ cả cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn.
Với tính cách là eơ sở khoa học thi cơ sở lý luận và cơ sở thực n là cơ bản nhất, 12. NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VỀ CẤP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRƠNG HỆ THỐNG HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC: Ở phần này, để tài tập trưng làm rõ những nội dung chủ yếu sau đây: 1. Cơ sở pháp lý về cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xa): Trong phần này, để tài tập trung nghiên cứu về chính quyền cấp xã, phường, thị trấn - là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống hành chính Nhà nước, trực thuộc cấp huyện. Trong tất cả bốn bán Hiến pháp (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992) đều quy định cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính Nhà nước, trực thuộc cấp huyện.
Tổ chức bộ máy của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND cấp xã): 'Tổ chức cấp xã, phường, thì trấn được quy định cụ thể tại các văn bản pháp quy của Chính phủ. Trong tổ chức bộ máy của UBND cấp xã, phường, thị trấn, đền có một Đan do một uỷ viên Uỷ ban nhân đàn phụ trách công tác bảo hiểm xã hội, tuy rằng chưa có một chức đanh riêng biệt phụ trách. Kể từ khi thành lập hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 1995, để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của Bộ luật Lao động chưa có văn bản pháp quy nào quy định về trách nhiệm của Liý ban nhân dân cấp xã về bảo biểm xã hội và cũng chưa có tổ chức và nhân sự thực hiện nhiệm vụ nầy, 1. Về chế độ, chính sách đối với cán bộ cấp xã: Phần này để tài tập trung nghiên cứu về chế độ, chính sách đối với cán bộ cấp xã trong các văn bản pháp quy của Chính phủ để một mặt, thấy rõ hơn cơ cấu nhân sự phụ trách công tác thương binh - xã hội, trong đó có bảo hiểu: xã hội; mặt khác, thấy được mức sinh hoạt phí mà các chức danh chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp xã được hưởng.
Trên cơ sở đó để nghiên cứu áp dụng cho ngành Bảo biểm xã hội khi tổ chức Bảo hiểm xã hội cấp xã. CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHÚC: BHXII NGANH DOC HIEN HANH: 2.1, THUC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC BHXH NGÀNH DỌC HIỆN HÀNH. Thực trạng bộ máy tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Ở phần này, để tài tập trung nêu bộ máy tổ chức quản lý của Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thiết lập theo hệ thống đọc từ Trung ương xuống địa phương theo cơ cấu 3 cấp như sau: - Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam, - Ö các tỉnh, thành phố trực thuộc Trưng ương (gọi chung là tỉnh) là Bảo hiểm xã hội tính trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam; ~ Ở các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện) à Bảo hiểm xã hội huyện trực thuộc Bảo hiểm xã hội ứnh.2, Thực trạng vẻ tổ chức BHXH cấp xã, phường, thị trấn ( gọi tất là BHXH cấp x8): "Trong văn bản pháp quy về việc thành lập, về tổ chức và hoạt động của Tảo hiểm xã hội Việt Nam (Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ và Quyết định 606/TTg ngày 26/9/1995 của Thủ tướng Chính phủ) chưa có. quy định vẻ tổ chức Bảo hiểm xã hội cấp xã.
Để thực hiện được chức năng của mình, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải tự tìm phương pháp thích hợp để thực hiện nhiệm vụ ở cấp xã như sau: 3. Tổ chức việc chỉ trả các đối tượng hưởng chế độ bảo hiển xã hội ở. cấp xã: Các chế độ bảo hiểm xã hội ở cấp xã được BHXH Việt Nam thực hiện bằng hai hình thức: ~ Chỉ trả trực tiếp; - Chỉ trả thông qua đại lý - Ban đại điện chủ trả cấp xã. Tổ chức việc thu bảo hiển xã hội ở cấp xã: Nhiệm vụ thu bảo hiểm xã hội ở cấp xã đặt ra như là một nhiệm vụ mới mẻ, trong khi chưa có bộ máy tổ chức, chưa có cán bộ thực hiện.
Nhiệm vụ này cơ quan Bảo hiếm xã hội cấp huyện phải trực tiếp thực hiện bằng bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức - viên chức hiện có của minh. Cho đến nay, vẻ mặt phấp lý chưa có văn bản nào quy định bộ máy tố chức để thực hiện nhiệm vụ thu BHXII ở cấp xã. Tuỳ thuộc tình hình, hoàn cảnh cụ thể do chính quyền cấp xã bố trí cán bộ cấp xã kiếm nhiệm giúp (hu BHXH cho ngành BHXH. Có xã hố trí kế toán ngân sách xã kiêm nhiệm, có xã bố trí ủy viên ủy ban nhân đân xã kiêm nhiệm.
NHẬN XÉT CHUNG VE NHONG-UU DIEM - HAN CHE, TON TAT TỔ CHÚC BHXH NGÀNH DỌC HIỆN HÀNH: 2.1, Những ưu điểm cơ bản của bộ máy tổ chức Bảo hiểm xã hội Nam hiện tại: Trước hết, bộ máy tổ chức ngành đọc Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã khắc phục được sự phân tán nhiễu đầu mối tổ chức Bảo hiểm xã hội ở các Bọ, ngành và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trước đây vào hệ thống tập trung thống nhất toàn ngành, đảm bảo thực hiện được mục tiều, yêu cầu, nhiệm vi: quản lý tập trung, thống nhất của Trung ương, tạo ra thực lực và quyền lực chỉ phối từ Trung ương. Hai là, trong nội bộ hệ thống tổ chức ngành đọc của Bảo hiểm xã hội 'Việt Nam cũng có sự phân cấp tương đối rõ ràng cụ thể về thẩm quyền, trách nhiệm trong việc xử lý chuyên móu, nghiệp vụ, thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội trên địa bàn hành chính được phân công phụ trách, nên cả ' hệ thống dọc của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đều vận hành thông suối.