Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội từ thực tiễn quận hải châu thành phố đà nẵng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội từ thực tiễn quận hải châu thành phố đà nẵng, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

89
9
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về bảo trợ xã hội và pháp luật bảo trợ xã hội ở Việt Nam

Chương này tập trung phân tích các khái niệm, đặc điểm và vai trò của bảo trợ xã hội trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bảo trợ xã hội được định nghĩa là sự hỗ trợ từ Nhà nước, xã hội và cộng đồng dành cho các đối tượng gặp khó khăn, rủi ro, nghèo đói. Đây là một chính sách nhân đạo nhằm giúp các cá nhân và gia đình vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. Pháp luật về bảo trợ xã hội bao gồm các quy định về đối tượng, điều kiện hưởng, mức hỗ trợ và cách thức thực hiện. Các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa cũng được xem xét như những tác động quan trọng đến việc thực hiện pháp luật này.

1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo trợ xã hội

Bảo trợ xã hội là một hệ thống các biện pháp hỗ trợ từ Nhà nước và xã hội dành cho các đối tượng yếu thế như người khuyết tật, người già, trẻ em mồ côi. Đặc điểm chính của bảo trợ xã hội là tính nhân đạo và sự đa dạng trong các hình thức hỗ trợ. Các đối tượng được bảo trợ thường là những người không có khả năng tự lo liệu cuộc sống do các nguyên nhân như nghèo đói, bệnh tật, hoặc thiên tai. Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có định nghĩa chính thức về bảo trợ xã hội, nhưng các văn bản pháp luật liên quan đều hướng đến việc hỗ trợ các đối tượng này.

1.2 Pháp luật về bảo trợ xã hội ở Việt Nam

Pháp luật về bảo trợ xã hội ở Việt Nam được xây dựng dựa trên các nguyên tắc nhân đạo và công bằng xã hội. Các văn bản pháp luật quy định rõ đối tượng, điều kiện hưởng và mức hỗ trợ cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật này vẫn còn nhiều hạn chế, chưa bao phủ hết các đối tượng cần hỗ trợ và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Các yếu tố kinh tế, chính trị và văn hóa cũng ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện pháp luật này.

II. Thực trạng thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội tại Quận Hải Châu Đà Nẵng

Chương này đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội tại Quận Hải Châu, Đà Nẵng. Các yếu tố kinh tế - xã hội của quận được phân tích như một phần tác động đến hiệu quả thực hiện pháp luật. Kết quả cho thấy, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội, vẫn còn nhiều hạn chế như thiếu nguồn lực, chưa đồng bộ trong quản lý và thiếu sự chủ động trong xây dựng chính sách. Các đối tượng được bảo trợ chưa được hưởng đầy đủ các quyền lợi theo quy định của pháp luật.

2.1 Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật

Các yếu tố kinh tế - xã hội tại Quận Hải Châu như tốc độ phát triển kinh tế, mức sống của người dân và hệ thống cơ sở hạ tầng đều có ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội. Mặc dù Đà Nẵng là một trong những thành phố phát triển nhất miền Trung, vẫn còn nhiều hộ nghèo và đối tượng yếu thế cần được hỗ trợ. Sự thiếu đồng bộ trong quản lý và phân bổ nguồn lực cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thực hiện pháp luật chưa cao.

2.2 Đánh giá chung về thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội

Việc thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội tại Quận Hải Châu đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Các đối tượng được bảo trợ chưa được hưởng đầy đủ các quyền lợi theo quy định của pháp luật. Nguyên nhân chính là do thiếu nguồn lực, chưa đồng bộ trong quản lý và thiếu sự chủ động trong xây dựng chính sách. Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật này.

III. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo trợ xã hội

Chương này đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo trợ xã hội và nâng cao hiệu quả thực hiện tại Quận Hải Châu, Đà Nẵng. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường nguồn lực, nâng cao năng lực quản lý và đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Các giải pháp này nhằm đảm bảo rằng các đối tượng yếu thế được hưởng đầy đủ các quyền lợi theo quy định của pháp luật.

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo trợ xã hội

Để hoàn thiện pháp luật bảo trợ xã hội, cần xây dựng các văn bản pháp luật chi tiết và cụ thể hơn, đảm bảo bao phủ hết các đối tượng cần hỗ trợ. Đồng thời, cần rà soát và sửa đổi các quy định hiện hành để phù hợp với thực tiễn. Việc tăng cường nguồn lực và nâng cao năng lực quản lý cũng là những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội bao gồm tăng cường nguồn lực, nâng cao năng lực quản lý và đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để đảm bảo rằng các đối tượng yếu thế được hưởng đầy đủ các quyền lợi theo quy định của pháp luật.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội từ thực tiễn quận hải châu thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của bảo trợ xã hội 1. Khái niệm bảo trợ xã hội Trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp phải những thuận lợi, may mắn mà ngược lại luôn phải bị đe doạ trước những rủi ro, biến cố. bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

Khi rơi vào những tình huống như vậy, nhu cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng trở thành cấp thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của BTXH, hầu hết các nước đều tổ chức thực hiện BTXH bằng cách xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán,… của mình. Theo thống kê củaTổ chức lao động quốc tế (ILO) trong các tài liệu về an sinh xã hội, trong số 172 nước thiết lập hệ thống an sinh xã hội thì chế độ BTXH đều được quan tâm thực hiện ngay từ đầu. BTXH được tiếp cận với nhiều góc độ như kinh tế, đảm bảo quyền con người, tiếp cận dưới phạm vi rộng và hẹp với sự khác biệt về nội hàm khái niệm, tiếp cận dưới những quan điểm, phạm vi khác nhau nên cũng có những khái niệm khác nhau đề cập.

Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (WB): “Bảo trợ xã hội là một tập hợp các biện pháp nhằm cải thiện và bảo vệ vốn con người, bao gồm sự can thiệp vào thị trường lao động, chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc. Sự can thiệp của bảo vệ xã hội giúp các cá nhân, hộ gia đình, hay cộng đồng quản lý một cách tốt hơn những rủi ro thu nhập khiến những đối tượng này bị tổn thương”. 8 Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì :“Bảo trợ xã hội là quyền tiếp nhận lợi ích từ Chính phủ của cá nhân, hộ gia đình nhằm bảo vệ họ trước tình trạng mức sống thấp hay đang bị suy giảm, đặc biệt khi phải hứng chịu những rủi ro, nhờ đó đáp ứng được các nhu cầu cơ bản”[22]. Ở Việt Nam, mặc dù BTXH đã được thực hiện từ rất lâu với vai trò quan trọng của Nhà nước nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về BTXH trong các văn bản pháp luật.

Theo cách hiểu thông thường thì đó là “sự giúp đỡ cho qua khỏi cơn nguy khốn” hay “giúp cho qua khỏi cơn nghèo ngặt”. Về ngữ nghĩa thì đa số các nhà khoa học cho rằng cụm từ này gồm hai nhóm từ ghép là “cứu trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội”. Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ “Bảo trợ” có nghĩa là giúp đỡ cho tổ chức hoặc cá nhân có khó khăn về vật chất trong cuộc sống. Còn cụm từ “trợ giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ khó khăn, thiếu thốn[24].

Hai thuật ngữ “bảo trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội” có nghĩa gần tương đồng nhau tuy nhiên trong các văn bản, sách báo và giáo trình hiện nay phần lớn sử dụng thuật ngữ “trợ giúp xã hội”. Các văn bản pháp luật về BTXH hiện hành sử dụng cụm từ “trợ giúp xã hội thường xuyên” thay cho “bảo trợ xã hội thường xuyên” hay “cứu tế xã hội thường xuyên”. Ngoài ra, ở Việt Nam có thể hiểu BTXH là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội và cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng gặp phải rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật, giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Theo khái niệm này, đối tượng BTXH chính là những người gặp khó khăn, rủi ro, biến cố, bất hạnh trong cuộc sống vì nhiều nguyên nhân khác nhau cần 9 có sự giúp đỡ.

Những đối tượng được kể đến đầu tiên trong hầu hết các quy định pháp luật BTXH các quốc gia đều là nhóm NKT, người già, cô đơn, trẻ em mồ côi thiếu người nuôi dưỡng… Qua nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm BTXH như sau: “Bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng”. Để thể chế hóa chính sách xã hội mang đậm tính nhân đạo này, tùy thuộc vào các giai đoạn khác nhau của điều kiện kinh tế - xã hội, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể chế độ BTXH với phạm vi đối tượng, điều kiện hưởng, mức hưởng,… và tổ chức thực hiện. Do vậy, có thể hiểu, dưới góc độ pháp luật, chế độ BTXH là tổng thể các quy phạm pháp luật có quan hệ chặt chẽ với nhau, xác định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho các thành viên trong xã hội khi bị lâm vào hoàn cảnh bất hạnh, rủi ro, nghèo đói,. không đủ khả năng đảm bảo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình.

Đặc điểm bảo trợ xã hội Từ những quan niệm về BTXH có thể rút ra một số đặc điểm về BTXH sau: - Về đối tượng tham gia Đối tượng tham gia BTXH bao gồm Nhà nước, các đối tượng BTXH và các chủ thể khác như tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động chung mang tính nhân đạo này. Trong đó: 10 Thứ nhất, đối tượng được bảo trợ Đối tượng được bảo trợ là mọi người dân trong xã hội không phân biệt vị thế, thành phần xã hội khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, rủi ro, bất hạnh hoặc vì nhiều nguyên nhân khác nhau cần có sự giúp đỡ để tồn tại. Đó là những thành viên có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro cần có sự nâng đỡ về mặt vật chất. Dưới góc độ xã hội thì họ thuộc nhóm người “yếu thế” trong xã hội, với những nguyên nhân khác nhau mà bị rơi vào vị thế bất lợi, thiệt thòi, có ít cơ may trong cuộc sống như người bình thường và không có đủ khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống của gia đình và bản thân.

Ngoài ra, dưới góc độ nhân đạo, đó có thể là những đối tượng nghiện hút, mại dâm, ăn xin,… Thứ hai, cơ quan Nhà nước Với tư cách là một chủ thể trong quan hệ BTXH, đã xác định được nghĩa vụ của mình và mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân,… trong hoạt động BTXH. Hoạt động BTXH, ngoài trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, còn là trách nhiệm của các Bộ, Ban, Ngành khác như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục,… và toàn thể các thành viên xã hội. - Về nội dung BTXH Theo quy định của pháp luật hiện hành, chế độ BTXH bao gồm hai nội dung chính là chế độ bảo trợ thường xuyên và chế độ bảo trợ đột xuất. Chế độ BTXH thường xuyên là sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần mang tính lâu dài cho những người thuộc diện BTXH nhằm giúp đỡ họ ổn định cuộc sống, hòa nhập vào cộng đồng.

Tùy từng đối tượng BTXH khác nhau mà pháp luật quy định chế độ trợ cấp cụ thể. Đối tượng hưởng chế độ BTXH thường là những đối tượng thỏa mãn các điều kiện thuộc diện BTXH mới được hưởng chế độ trợ cấp này, đối tượng BTXH thuộc diện trợ 11 cấp hàng tháng do xã phường, thị trấn quản lý với mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 270.000 đồng (hệ số 1); khi mức sống tối thiểu của người dân thay đổi thì mức chuẩn trợ cấp xã hội cũng được điều chỉnh theo cho phù hợp. Chế độ BTXH đột xuất là sự hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất, tinh thần cho những người gặp rủi ro do thiên tai và những lý do bất khả kháng khác nhằm giúp họ vượt qua hoàn cảnh hiểm nghèo, khắc phục hậu quả rủi ro để ổn định cuộc sống. Đối tượng được trợ giúp đột xuất (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc lý do bất khả kháng khác gây ra; Ủy ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan đơn vị đứng ra tổ chức mai táng cho người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng.

Mức trợ cấp BTXH đột xuất chủ yếu là một lần đối với hộ gia đình, cá nhân, đối với người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng… tùy vào từng đối tượng mà nhà nước quy định mức trợ cấp BTXH đột xuất cụ thể. - Về mục đích BTXH Mục đích của BTXH không nhằm bù đắp thu nhập thường xuyên bị giảm hoặc mất hay đảm bảo ổn định đời sống, đền ơn đáp nghĩa những người có công,… mà chỉ hỗ trợ, giúp đỡ cho những người lâm vào tình trạng thực sự khó khăn, túng quẫn, cần có sự giúp đỡ vật chất mới có thể vượt qua được hoàn cảnh hiện tại. Do đó, mức hưởng thường là thấp và linh hoạt, phụ thuộc vào khả năng tài chính của Nhà nước, khả năng huy động nguồn lực, và tình trạng thực tế của đối tượng,… Ngoài ra, chế độ BTXH còn được thực hiện với các hoạt động xóa đói giảm nghèo, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tệ nạn xã hội. Vai trò của bảo trợ xã hội Trong mỗi quốc gia, bao giờ cũng tồn tại một bộ phận đối tượng cần 12 trợ giúp, bất kể quốc gia đó có điều kiện kinh tế phát triển đến đâu.

Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế giới đều là đạt được sự tiến bộ của xã hội. Thước đo của việc phát triển xã hội chính là việc giải quyết các vấn đề xã hội nãy sinh trong quá trình phát triển kinh tế. Vì vậy việc thực hiện các chế độ BTXH đối với mỗi quốc gia là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Thực Hiện Pháp Luật Bảo Trợ Xã Hội Tại Quận Hải Châu, Đà Nẵng là một nghiên cứu chuyên sâu về việc áp dụng pháp luật bảo trợ xã hội tại địa bàn quận Hải Châu, Đà Nẵng. Tài liệu này phân tích thực trạng, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách bảo trợ xã hội. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm đến lĩnh vực an sinh xã hội.

Để mở rộng kiến thức về các chính sách xã hội và bảo trợ, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn áp dụng tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về việc thực thi bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực tiễn thi hành tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về cơ chế bảo hiểm xã hội tự nguyện. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người dân trên địa bàn tỉnh Tiền Giang sẽ mang đến góc nhìn về yếu tố tác động đến quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách xã hội và bảo trợ tại Việt Nam.