MỞ ĐẦU Trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng, việc mở rộng tự do thƣơng mại hóa đã tác động rất lớn vào nền kinh tế Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trƣớc nhiều cơ hội để hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, tuy nhiên việc mở rộng thƣơng mại hóa cũng tạo ra sự cạnh tranh gay gắt khi doanh nghiệp các nƣớc có thể hoạt động ở bất kỳ thị trƣờng nào, và các doanh nghiệp trong nƣớc dần dần bị thu hẹp thị trƣờng kinh doanh do năng lực cạnh tranh bị hạn chế. Bên cạnh những cơ hội rộng mở là những thách thức đòi hỏi nền kinh tế nƣớc ta phải nỗ lực hơn nữa, với những giải pháp tích cực để có hƣớng đi phù hợp nhằm hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Do đó, các doanh nghiệp cần có triết lý kinh doanh, những định hƣớng cụ thể phù hợp với thị trƣờng và thị hiếu khách hàng.
Một trong những yếu tố quan trọng, đó là cách thức quản trị của các doanh nghiệp, đây là một nguồn lực nội sinh đóng góp một phần to lớn vào sự phát triển ổn định và lâu dài của doanh nghiệp trong tƣơng lai. Đi cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp, trong mỗi công ty đều có văn hóa kinh doanh riêng biệt, đó là đặc trƣng riêng của từng doanh nghiệp. Các giá trị văn hóa trong công ty sẽ chịu sự ảnh hƣởng bởi ngƣời đứng đầu doanh nghiệp về cách thức tổ chức, quản lý, hành vi ứng xử đối nội và đối ngoại, những yếu tố đó sẽ ảnh hƣởng rất nhiều đến các định hƣớng phát triển và tồn tại của các doanh nghiệp trong tƣơng lai. Chính vì thế, văn hóa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội ở nƣớc ta hiện nay.
Tại Việt Nam theo chiều dài lịch sử, hoạt động kinh doanh không phải là điểm mạnh đối với nƣớc ta vốn là một nƣớc nông nghiệp lạc hậu và kém phát triển. Từ năm 1975 sau khi thống nhất đất nƣớc, nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp dƣới sự quản lý của nhà nƣớc đã xóa sổ gần nhƣ toàn bộ nền kinh tế tƣ nhân trong cơ cấu xã hội Việt Nam. Nền kinh tế không còn hoạt động tự do mà theo sự điều tiết của nhà nƣớc. Nhƣng bắt đầu từ năm 1986, chính phủ đã định hƣớng đƣợc con đƣờng để phát triển kinh tế bằng một cam kết chính trị rất rõ ràng: “Kinh tế tƣ nhân đƣợc phát triển, không hạn chế địa bàn, quy mô ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị khóa VI (15-7-1988).
Vì vậy, nền kinh doanh ở nƣớc ta vốn rất yếu ớt và 2 mỏng manh phải từng bƣớc xây dựng lại gần nhƣ từ đầu bộ phận kinh tế tƣ nhân và tầng lớp doanh nhân. Với sự phát triển non trẻ này, tầng lớp doanh nhân không đƣợc thừa hƣởng những giá trị kinh doanh, tinh thần kinh doanh đƣợc truyền lại cho các thế hệ tiếp theo nhƣ những quốc gia có bề dày lịch sử gia đình kinh doanh trên thế giới. Tiếp theo Văn kiện Đại hội XIII cũng tiếp tục khẳng định kinh tế tƣ nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế và khẳng định: “Cần xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tƣ nhân, hỗ trợ kinh tế tƣ nhân phát triển đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ, phát triển nguồn nhân lực. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, lực lƣợng chiếm số lƣợng đông đảo nhất, năng động nhất với những đóng góp không thể phủ nhận cho kinh tế - xã hội, nhƣng cũng là khu vực dễ bị tổn thƣơng, cần có chính sách hỗ trợ cụ thể đƣợc luật định rõ ràng, xóa bỏ mọi gánh nặng không chính thức, dễ dàng tiếp cận và đƣợc phép khai thác hiệu qủa các nguồn lực quốc gia” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.
Chính trị Quốc gia- Sự thật, 2021, tập 1, tr. Hiện nay, nền kinh tế tƣ nhân ở Việt Nam đã góp phần hơn 40% GDP1 của cả nƣớc. Trong đó, doanh nghiệp gia đình đã vƣợt trội hơn các loại hình doanh nghiệp khác về doanh số, lợi nhuận và các chỉ số tăng trƣởng khác. Theo thống kê của Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Việt Nam (2019), có 100 doanh nghiệp gia đình lớn nhất Việt Nam đã góp vào 25% GDP của cả nƣớc.2 Tuy nhiên, với yêu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế thị trƣờng về chất lƣợng sản phẩm, hành vi sản xuất, và quản lý, các doanh nghiệp gia đình ở Việt Nam vẫn chƣa nâng cao đƣợc giá trị của sản phẩm của doanh nghiệp mình trên thị trƣờng thế giới, còn nhiều sự bất cập ngay trong cách thức quản trị của doanh nghiệp, chƣa khai thác hết tiềm năng của giá trị văn hóa dân tộc, cũng nhƣ chƣa nhìn nhận đƣợc những tiêu cực còn ảnh hƣởng đến văn hóa trong chính bản thân doanh nghiệp.
Vai trò của nhà quản trị trong việc hình thành và xây dựng văn hóa doanh nghiệp là rất lớn. Trong cùng một doanh nghiệp, các thế hệ lãnh đạo khác nhau 1 Tổng sản phẩm quốc nội (gross domestic product).vn/100-doanh-nghiep-gia-dinh-lon-nhat-viet-nam-dong-gop-1-4-gdp-ca-nuoc- 20170625101224825p4c145.news, ngày truy cập 20/06/19. 3 cũng tạo ra những quyết định có ý nghĩa khác nhau. Nhƣng nếu doanh nghiệp đó đã có hệ thống văn hóa doanh nghiệp có mục tiêu phát triển, triết lý kinh doanh, lối ứng xử, hành vi văn hóa của doanh nghiệp rõ ràng, mọi ngƣời trong tổ chức thừa nhận và cùng nhau thực hiện, thì cho dù có thay đổi nhà quản trị, văn hóa doanh nghiệp cũng sẽ phát triển và trƣờng tồn với doanh nghiệp.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết và chuyên đề về vấn đề văn hóa quản trị của các doanh nghiệp gia đình trên thế giới. Tuy nhiên ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về doanh nghiệp gia đình chƣa nhiều. Theo chiều dài lịch sử, các công ty gia đình ở Việt Nam đang bƣớc vào giai đoạn kế nhiệm thứ hai hoặc thứ ba, nên đề tài này đang còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Việc nghiên cứu về các công ty gia đình thật sự cần thiết cho thời điểm hiện tại.
Trƣớc những cơ hội và thách thức cho sự phát triển bền vững của các công ty gia đình hiện nay, một vấn đề quan trọng là quản trị trong doanh nghiệp. Để nhận diện ra các mô thức văn hóa ảnh hƣởng đến cách thức quản trị của các công ty gia đình hiện nay nhƣ thế nào, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Đi tìm những mô thức văn hóa kinh doanh trong việc quản trị công ty gia đình (khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh)”. Thiết nghĩ đây là một đề tài khá thú vị đƣợc thực hiện trong một bối cảnh các doanh nghiệp gia đình đang dần dần đƣợc xây dựng, phát triển. Vì vậy, đề tài hy vọng nhận diện các nhân tố đang chi phối và đƣa ra những lý giải về các mô thức văn hóa của các doanh nghiệp gia đình, trong cách thức quản trị hiện nay nhƣ thế nào, từ đó có thể có những phƣơng pháp cải tiến, khai thác sức mạnh nội lực của văn hóa dân tộc, tạo động lực để các doanh nghiệp hòa nhập và phát triển vững mạnh trên thị trƣờng thế giới.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU TRA A. Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu về văn hóa kinh doanh của các công ty gia đình trên thế giới. Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các công ty gia đình.
Mô hình này đã xuất hiện trên thế giới từ rất sớm, chẳng hạn nhƣ khách sạn suối nƣớc nóng Nisiyama Onsen Keiunkan đƣợc thành lập năm 705 tại Yamanashi (Nhật Bản), hiện nay đƣợc quản lý bởi một gia đình đã trải qua 52 thế hệ, hay nhà máy bia Weihenstephan đƣợc thành lập năm 1040 tại Freising (Đức), và đây cũng là công ty cổ nhất thế giới. Vì vậy, trên thế giới, các công ty gia đình từ lâu đã là đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học xã hội, nhà kinh tế học, chính trị học về các khía cạnh nhƣ định hƣớng phát triển kinh tế, mục đích tồn tại, hay quản trị kế nhiệm, hay các giá trị gắn bó. Theo Viện nghiên cứu công ty gia đình (Family Firm Institute), tính đến năm 2017, các công ty gia đình chiếm 2/3 tổng số doanh nghiệp trên thế giới, tạo ra 70%- 90% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hằng năm, và chiếm 50% - 80% việc làm ở hầu hết các quốc gia. Các doanh nghiệp gia đình phát triển những tập đoàn có thƣơng hiệu danh tiếng trên thế giới đã tồn tại lâu đời nhƣ Hermès, Ford, Chateau de Goulaine, Toyota, Samsung, Hyundai, Estée Lauder… và điều thú vị khi các công ty gia đình trên thế giới đều đƣợc đặt tại Nhật Bản.
Cho đến nay, đã có nhiều cách giải thích khác nhau về sự ra đời của các công ty này từ rất sớm, nhƣng chƣa có công trình khoa học nào lý giải đƣợc sự tồn tại của loại hình doanh nghiệp này qua nhiều thế kỷ. Theo lời ông Hugh Whitaker tại viện nghiên cứu Nhật Bản Nissan - thuộc đại học Oxford: “Các công ty gia đình này đã thể hiện sự cân bằng giữa việc duy trì và cải tiến phƣơng pháp mà họ đã lựa chọn suốt nhiều thế kỷ qua, văn hóa kinh doanh của họ không thể hiện 5 trong báo cáo tài chính mỗi quý, mà đó là sự kiên trì nỗ lực để trƣờng tồn cùng với tên gọi của nó”.3 Theo công trình nghiên cứu “Quản trị văn hóa và giá trị trong doanh nghiệp gia đình” lần thứ chín của tập đoàn Pricewaterhouse Coopers (PwC) năm 2018, doanh nghiệp gia đình thƣờng đƣợc xây dựng dựa trên các giá trị và mục đích mà họ theo đuổi, họ vạch ra kế hoạch chiến lƣợc phát triển rõ ràng. Mục đích tồn tại của một doanh nghiệp là những kỳ vọng về sản phẩm, về dịch vụ, sản xuất. Ngoài việc tìm kiếm doanh lợi, mục đích của doanh nghiệp bao gồm cung cấp việc làm cho gia đình và cộng đồng, thúc đẩy đổi mới để cải thiện doanh nghiệp.
Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp luôn tìm kiếm cân bằng giữa lợi nhuận, động lực phát triển trong kinh doanh và nâng cao ý thức đạo đức trong kinh doanh4 (PWC Family Business Survey, 2018). Trong một công trình nghiên cứu về quản lý và kinh doanh trong gia đình, Magdalena Biel và Beata Slusarczyk cho rằng: những tính năng đặc trƣng xác định tính hiệu quả của doanh nghiệp gia đình là phong cách quản lý và cách thức ra quyết định.