Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐÔ THỊ 1. Khái niệm về đô thị Đô thị là khái niệm có tính tương đối, được quan niệm dựa theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư và theo yêu cầu cũng như khả năng quản lý mà mỗi quốc gia có quy định riêng. Đối với Việt Nam, đô thị là tên gọi chung của thành phố, thị xã, thị trấn và thị tứ. Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [40].
Về dấu hiệu chung nhất, đô thị là sản phẩm của văn minh xã hội, nó vừa là trung tâm của một vùng lãnh thổ có các hoạt động kinh tế với đặc trưng là lao động phi nông nghiệp giữ vai trò quyết định phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ nhất định, là nơi tập trung đầu mối về giao thông, hàng hoá dịch vụ, thông tin và giao lưu trong nước cũng như quốc tế; đồng thời đô thị vừa là không gian cư trú của cộng đồng người sinh sống tập trung với mật độ cao, họ làm việc theo phong cách sống văn minh thành thị, lối sống công nghiệp hiện đại. Điểm khác biệt so với nông thôn ở chỗ: đô thị có mật độ dân số cao, kết cấu dân cư phức hợp, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội có tính liên thông, đồng bộ, là điểm kết nối và lan tỏa về giao thông, hàng hoá dịch vụ, giao lưu, truyền thông và tri thức, là trung tâm của các chuyển biến về kinh tế - xã hội. Lao động ở đô thị có tính chuyên môn hóa cao hơn, tính 8 cách của thị dân tự do hơn và mối quan hệ tình cảm (rộng hơn là nhân văn) cũng ít lệ thuộc lẫn nhau. Song điểm đáng lưu ý, mỗi gia đình tuy sống độc lập trong một căn hộ nhưng sinh hoạt ở các gia đình đều có ảnh hưởng tác động lẫn nhau làm cuộc sống đô thị phụ thuộc vào nhau (sự phụ thuộc lẫn nhau ở đô thị không đi kèm với mối liên hệ ràng buộc của nông thôn), phụ thuộc vào những nhà quản lý và phụ thuộc vào hệ thống hạ tầng - dịch vụ cung ứng cho xã hội đó.
Sự phụ thuộc lẫn nhau ở đô thị được phản ánh thông qua sự liên hệ lợi ích được chia sẻ từ các tài nguyên công cộng, gắn bó về không gian chung và nhất là hệ thống công trình công cộng và hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Chính những đặc thù của đô thị vừa nêu đặt ra nền móng cho mối quan hệ giữa thị dân và chính quyền quản lý họ, nó đòi hỏi phải có những mối quan hệ luật pháp, chính sách quản lý tinh tế hơn để điều chỉnh hợp lý các quan hệ xã hội và bảo vệ tài sản công, lợi ích công cộng từ những cộng đồng nhỏ cho đến toàn địa bàn đô thị. Đô thị hóa Đô thị hóa (Urbanization) là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Quá trình đô thị hóa là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị.
Mức độ đô thị hóa được tính bằng tỉ lệ % số dân đô thị so với tổng dân số toàn quốc hay vùng. Tỉ lệ dân số đô thị đã từng được coi là thước đo về đô thị hóa để so sánh mức độ đô thị hóa giữa các nước với nhau hoặc các vùng khác nhau trong một nước. Tuy nhiên, tỉ lệ % dân số đô thị chưa thể phản ánh đầy đủ mức độ đô thị hóa của các nước đó. Ngày nay, do nền kinh tế phát triển cao cũng như qua nhiều thế kỷ phát triển, đô thị và công nghiệp hóa đất nước đã ổn định ở các nước phát triển và phát triển cao.
Chất lượng đô thị hóa 9 lúc này phát triển theo các nhân tố chiều sâu. Đó là việc nâng cao chất lượng cuộc sống, tận dụng tối đa những lợi ích và hạn chế tối thiểu những ảnh hưởng xấu của quá trình đô thị hóa nhằm hiện đại hóa cuộc sống và nâng cao chát lượng môi trường đô thị. Ỏ các nước đang phát triển, đặc trưng của đô thị hóa là sự tăng nhanh dân số đô thị không hoàn toàn dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp. Hiện tượng bùng nổ dân số đi cùng với sự phát triển yếu kém của công nghiệp đã làm cho quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mất cân đối, sự mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn càng thêm sâu sắc làm cho quá trình phát triển không bền vững.
Sự chênh lệch về đời sống đã thúc đẩy sự dịch chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị một cách ồ ạt, làm cho đô thị phát triển nhanh chóng đặc biệt là ở các dô thị lớn, đô thị trung tâm, tạo nên những điểm dân cư đô thị cực lớn mất cân đối trong sự phát triển hệ thống dân cư. Phân loại đô thị 1.1 Cơ sở phân loại đô thị - Mức độ đạt được của các tiêu chuẩn của đô thị quy định tại Nghị định 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 5 năm 2009 về phân loại đô thị. - Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và định hướng phát triển hệ thống đô thị quốc gia, quy hoạch chung xây dựng đô thị. - Thực trạng phát triển, các đặc thù riêng, vai trò chức năng của đô thị.
- Nhu cầu tổ chức quản lý hành chính nhà nước theo lãnh thổ.2 Các cách phân loại đô thị Sự phân loại được căn cứ vào một số chỉ tiêu cơ bản nhất của mỗi đô thị, đó là: (i) Các điều kiện sống và lao động của dân cư; (ii) Chức năng của đô thị trong phát triển kinh tế - xã hội; (iii) Quy mô dân số của đô thị; (iv) Vị thế của đô thị trong hệ thống đô thị… a) Phân loại theo tiêu chí riêng rẽ: 10 Theo quy mô dân số: Trên thế giới, các đô thị thường được phân thành có quy mô: cực lớn; lớn; trung bình lớn; trung bình nhỏ và đô thị nhỏ. Tuy nhiên, do quy mô đất đai lãnh thổ và dân số nhỏ bé (kể cả các nước phát triển và đang phát triển), thường phân loại các đô thị ra làm 3 loại cơ bản sau: i/ Đô thị lớn có >1.000 người; ii/ Đô thị trung bình có từ 20.000 người đến dưới 1.000 người; iii/ Đô thị nhỏ có từ 2.000 người đến dưới 20. Theo cấp hành chính – chính trị: Thủ đô quốc gia hay liên bang; Thủ đô bang (nếu có cơ cấu liên bang); Tỉnh lỵ, huyện lỵ. Ở một số nước trên thế giới, đô thị không thuộc huyện (ngang cấp huyện); đô thị trực thuộc huyện (ngang cấp xã).
Ở Việt Nam, Thành phố thuộc trung ương (cấp tỉnh); Thành phố thuộc tỉnh, thị xã (cấp huyện); Thị trấn (cấp xã). Theo tính chất sản xuất: Dựa vào tính nổi trội về một sô lĩnh vực hoạt động, sản xuất nào đó, đô thị được phân thành: đô thị công nghiệp, đô thị du lịch, đô thị văn hóa… b) Phân loại tổng hợp: Đây là cách phân loại dựa trên cơ sở của tổng hợp nhiều tiêu chí, để phục vụ cho quản lý nhà nước. Ở Việt Nam, theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 5 năm 2009 về phân loại đô thị, các đô thị được phân thành 6 loại đô thị sau: loại đặc biệt1; I (Đô thị trực thuộc Trung ương); II; III; IV; V. * Các trường hợp đặc biệt: Tiêu chuẩn phân loại đô thị áp dụng cho một số đô thị theo vùng miền: đối với các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, 1 Đô thị loại đặc biệt (Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước).
11 tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, còn các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương. Tiêu chuẩn phân loại đô thị áp dụng cho một số đô thị có tính chất đặc thù: tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương và bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị. Quản lý nhà nước đối với đô thị 1. Quan niệm về quản lý nhà nước đối với đô thị “Quản lý Nhà nước về đô thị là sự tổ chức, điều hành, điều chỉnh và tác động của chính quyền nhà nước và các cơ quan chức năng chuyên môn các cấp từ trung ương tới địa phương vào quá trình xã hội, vào các hành vi, hoạt động của các tổ chức, cá nhân, nhóm cộng đồng dân cư nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm cho các đô thị phát triển ổn định, trật tự, bền vững và trường tồn trong quá trình tạo lập môi trường sống cho dân cư đô thị” [29, tr.
Như vậy, thực chất quản lý nhà nước về đô thị là sự can thiệp của chính quyền bằng quyền lực vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị với mục đích làm cho các đô thị trở thành những trung tâm hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và giao lưu quốc tế của mỗi vùng lãnh thổ.